Trang Chính    Hộp Thư    Truyện Thật Ngắn    Truyện Ngắn    Thơ    Bút Ký    Góp Nhặt    Sức Khỏe và Gia Đình    Gia Chánh   
Cùng Tác Giả   

 

PHẬN LÀM CON

                               (Mùa Vu Lan)

 

Nguyễn Hoài Phương Trúc 

 

 

Nhân mùa lễ Vu Lan đã trở về với chúng ta. Tôi xin trình bày đạo làm con qua truyền thống dân gian. Nhằm mục đích nhắc nhở các con em trong gia đình người Việt chúng ta, chớ nên xao lảng bổn phận làm con đối với cha mẹ. Lúc cha mẹ còn sanh tiền cũng như đã quá vãng.

Tổ tiên ta thường dạy: “ Cây có cội mới đâm chồi nẩy lá, nước có nguồn mới chảy toả rộng khắp muôn sông. Làm người có tổ có tông, có cha có mẹ phải mong báo đền.”

 

 

     BÔNG HỒNG CÀI ÁO:

 

Trước khi đi sâu vào chi tiết, tôi xin được mạn phép nhắc qua tục lệ Bông Hồng Cài Áo vào mỗi dịp lễ Vu Lan để tưởng nhớ đến công ơn của mẹ. Tục lệ Bông Hồng Cài Áo để tưởng nhớ đến mẹ vào các dịp lễ vu Lan tại các chùa chiền nước ta trước kia không có. Chỉ thấy xuất hiện trước năm 1975 một thời gian không lâu lắm vào khoảng đầu thập niên 1960. Khi có một số vị sư đi du học và thăm viếng nước Nhật, thấy người Nhật dùng hoa cẩm chướng màu đỏ cài lên ngực áo cho những ai còn mẹ và hoa màu trắng cho những ai mất mẹ, như là một biểu tượng hạnh phúc cho những ai còn mẹ và những tang thương mất mát, đớn đau, cho những ai không còn mẹ.

Thấy tục lệ nầy hay và có mhiều ý nghĩa. Nên các vị sư khi trở về nước mang theo tục lệ ấy truyền bá lại trong nhân gian và đặc biệt là trong các chùa chiền ở miền Nam vào mùa báo hiếu, trong lễ Vu Lan. Thay vì dùng hoa cẩm chướng như ở Nhật, quý vị sư dùng hoa hồng. Màu đỏ cho những người còn mẹ và màu trắng cho những ai mất mẹ.

Năm 1962, thiền sư Nhất Hạnh nương theo ý đó viết một đoản văn tựa đề Bông Hồng Cài Áo tại một khu rừng miền Trung tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ, sau khi đi thăm thầy Thích Thiện Ân ở Đông Kinh, Nhật Bản về. Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ mượn ý bài đoản văn trên sáng tác bản nhạc Bông Hồng Cài Áo nổi tiếng cho đến ngày nay.

Cho nên, mỗi khi ta nhắc đến lễ Vu Lan, mùa báo hiếu là ta nghĩ ngay đến Bông Hồng Cài Áo, nhớ đến ơn cha, nghĩa mẹ, tổ tiên, ông bà, cửu huyền, thất tổ của ta. Bổn phận làm con ta phải lo báo đáp. Vì cha mẹ đã cho ta quá nhiều và đó là cái ân mà ta phải đền đáp trong muôn một. Nhất là ân cha mẹ.

 

 

   MƯỜI ÂN:

 

           Ta thường nghe câu: Vẹn mười ân mới đạo làm con.

 

Vậy mười ân ấy là gì? Mà bổn phận làm con phải vẹn để tròn câu hiếu đạo, báo hiếu mẹ cha. Mười ơn đó là:

 

1.  Hoài Thai: Từ khi đứa con tượng hình trong bụng mẹ cho đến lúc chào đời, chín tháng cưu mang, mười ngày khổ nhọc, mẹ phải trải qua bao nhiêu sự vất vả gian nan. Kiêng ăn, bớt ngủ, nằm, đi, đứng phải cẩn thận, nhẹ nhàng, chậm chạp, sợ chuyển động đến thai nhi, hình vóc mẹ hao mòn, gầy yếu, xanh xao. Phấn son chẳng màng, trang điểm không thiết(1).

 

2.   Khai nở: Khi đến kỳ sinh nở, hài nhi cựa quậy, chòi đạp lung tung, làm cho mẹ đau đớn, nhức nhối vô cùng, như đang bị bổ da, xé thịt, thân thể rã rời, tứ chi rũ riệt, hao mòn sưc khỏe, sự sống chết gần kề, nguy hiểm đến tính mạng, không ai thay thế hay gánh vác dùm được. Vì thế có câu:

 

       Đàn ông đi biển có đôi,

       Đàn bà đi biển mồ côi một mình.

 

3.  Vui Mừng: khi vừa thấy được mặt con, biết con vuông tròn khỏe  mạnh, cha mẹ hân hoan vui mừng không xiết kể, chẳng khác chi được ai cho ngọc tặng vàng. nhất là mẹ quên đi bao nỗi đớn đau, sợ sệt. Tâm hồn mẹ hân hoan, thơ thới nhẹ nhàng.

 

4. Nuôi Dưỡng: Thương con mà mẹ phải ăn đắng, nuốt cay, dành phần ngon ngọt, bổ dưỡng đầy đủ cho con, miễn là con được khỏe mạnh, ăn chơi, khôn lớn. Cha mẹ dù phải dầm mưa, giãi nắng, thức khuya, dậy sớm, tảo tần cực nhọc, cam go, gian khổ, thiếu thốn trăm bề cũng không than thở. miễn sao cho con được ăn no, mặc đẹp. Đôi khi cũng vì thương con mà cha mẹ làm những điều bất lành, gây nên nghiệp quả, phải đọa trầm luân, vào đường địa ngục, qua sáu ngã luân hồi, không ngày được ra.

 

5. Chịu Dơ Bẩn: Ban đêm cha mẹ đang an giấc nồng, con bỗng nhiên trở mình phóng vật quế dơ. Cha vội đốt đèn, mẹ lại phải rửa trôn, thay quần, đổi tã cho con, không nề hà, than trách, dẫu cực nhọc đến dường nào. Dành phần giường khô cho con, phần ướt thuộc về cha mẹ.

 

6. Bú Mốm: Nuôi con bằng dòng sữa tươi của mẹ, mẹ phải kiêng ăn, cử uống. Chọn vật lành mẹ ăn, chọn thức uống sao cho thích hợp để tạo nên dòng sữa hiền cho con bú vào không sanh ra bịnh tật, ốm đau. Đôi khi vì gia cảnh thanh bần, mẹ ăn chẳng được no, uống chẳng được đủ làm cho hình vóc mẹ gầy còm, xanh xao, tiều tụy. Một giọt sữa cho con là một giọt máu đào của mẹ.

          

          Máu hòa làm sữa nuôi rày hài nhi.

 

7. Giặt Giũ: Con phóng vật quế dơ vào chăn, mền, quần áo hằng ngày. Cha mẹ phải giặt giũ, lau chùi sạch sẽ, giữ vệ sinh tinh khiết quần áo, nơi ăn, chốn ngủ cho con, giữ cho con khỏi bị ruồi bu, rận cắn, hôi thúi, dơ dáy mà sanh bịnh.

 

8. Lo Lắng Nhớ Thương: khi con có việc phải xa nhà, học hành, làm ăn xứ khác hay giữa đêm khuya khoắt đi chơi chưa kịp về. Cha mẹ tựa cửa trông chờ, buồn rầu, âu lo, không dám ngủ. Mỗi khi nghe còi hụ của xe cứu thương chạy qua là mỗi lần cha mẹ khiếp vía, kinh hoàng, không thể an được giấc nồng, mơ tưởng lo lắng về con. Cha mẹ lúc nào cũng cầu Trời, khẩn Phật sao cho con được an lành, bình yên tất cả.

 

9. Dạy Dỗ: Cha mẹ hết lòng, cố gắng dạy dỗ, đào tạo, uốn nắn sao cho con được nên người tài năng, đức hạnh, hữu dụng trong nhân quần xã hội. Dầu túng thiếu, nghèo nàn, phải giảm ăn, bớt mặc cũng rán lo cho con đến trường để có sự hiểu biết với đời và có được một tương lai tốt đẹp về sau.

 

10. Tình Thương Cao Cả: Cha mẹ thương con, vì con, hy sinh cho con, không một chút tính toán so đo, miễn sao cho con được vui, hạnh phúc vẹn tròn, thành công mỹ mãn trên đường đời, dù phải mhắm mắt cha mẹ cũng vui lòng. Trên đời nầy không có tình thương nào thâm sâu, cao cả, bao la bằng tình thương của cha mẹ. Chỉ biết cho mà không bao giờ biết nhận. Được thể hiện qua câu:

 

       Bể có sâu còn có bờ, có bến,

       Tình mẹ cha thật vô bến vô bờ.

 

 

BỔN PHẬN CỦA CON:

 

Trên đây là mười ân mà bổn phận làm con phải ghi nhớ để báo đền thâm ân phụ mẫu, tựa như non cao, bể cả, núi rộng, sông dài cho vẹn đạo làm con, tròn câu hiếu tử. Ca dao ta có câu:

 

        Lên non mới biết non cao,

        Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

 

  Thật vậy, ta thấy cha mẹ nuôi con cực nhọc như thế nào thì cha mẹ ta nuôi ta cũng cực nhọc như thế ấy. Ta phải báo đáp lại công ơn của cha mẹ và báo đáp như thế nào để vẹn tròn câu hiếu nghĩa, phải đạo làm con? Báo đáp ở đây không đặt nặng về vật chất tiền tài mà bằng tấm lòng của chúng ta. Tức là thể hiện chữ hiếu qua cử chỉ, hành động hay lời nói. Như hỏi cha mẹ ăn cơm chưa? Hoặc bằng một lời hỏi thăm có hàm ý chăm sóc về sức khỏe. Như cha mẹ ăn có ngon không? Ngủ có khỏe không? Hay bằng một cử chỉ đẹp, lễ phép, mời một bát nước, rót một ly trà đó cũng là chữ hiếu của phận làm con.

 

Sách có câu: “ Thiên kinh vạn điển hiếu nghĩa vi tiên.” Nghĩa là muôn vạn quyển kinh sách của Phật, Thánh, Tiên đều dạy sự hiếu nghĩa làm đầu. Vậy hiếu là chữ quan trọng đứng đầu trong phận làm con, nếu muốn báo đền công ơn của cha mẹ. Như Ngài Mục Kiều Liên biết mẹ mình làm tội, bị đày xuống hoả ngục A Tỳ, chịu nhiều cực hình qua nhiều kiếp quả. Vì lòng hiếu đạo, Ngài từ bỏ vật chất, địa vị cao sang, quyết tu cho thành chánh quả để cứu mẹ thoát nàn. Lòng hiếu thảo của Ngài cảm động đến lòng từ bi của chư Phật, nên đức Phật Bà Quan Âm cho mượn gậy phép và bồn bát cứu mẹ ra khỏi địa ngục A Tỳ và sau tu hành đắc thành chánh quả.

 

Vậy chữ hiếu phải phát xuất từ trong tâm và phải có lòng thành, chứ chữ hiếu phát xuất từ bên ngoài vì sợ miệng đời chê trách hay vì quyền lợi riêng tư mà không có lòng thành thì chữ hiếu đó không có giá trị.

 

Dù ở tuổi nào bổn phận làm con cũng làm cho cha mẹ vui lòng. Nhất là cha mẹ tuổi đã về chiều. Như Lão Lai đời Xuân Thu tuổi đã ngoài bảy mươi mà cha mẹ còn sống. Ông thấy cha mẹ buồn, ông giả làm trẻ thơ khóc “ Tu Oa, Tu Oa ” và mặc áo sặc sở nhảy nhót, múa hát như trẻ con trước mặt cha mẹ để mong sao cha mẹ được vui cười.

Bổn phận làm con có hiếu đạo không đòi hỏi phải làm những điều gì to tát, vượt quá khả năng mà chỉ thăm viếng vào những giờ rảnh rỗi, để ý đến miếng ăn, thức uống của cha mẹ và cũng không quên cầu nguyện cho cha mẹ khỏe mạnh. Nếu chẳng may cha mẹ quá vãng rồi thì được siêu thăng Tịnh Độ, trực vãng Tây Phương hoặc nơi an lạc, nước Thiên Đàng.

 

Ngoài ra, đạo làm con là phải kính trên, nhường dưới, bà con nội ngoại hai bên, hòa thuận với anh em, tín nghĩa với bạn bè, vui vẻ với xóm giềng, tạo niềm hạnh phúc trong gia đình, mở rộng lòng từ tâm giúp kẻ nghèo hèn, thương người tàn tật, ốm đau bịnh hoạn để cho cha mẹ thấy mà vui lòng.

Nếu cha mẹ có dạy những điều hay lẽ phải ta rán chăm chỉ nghe lời, chớ nên xao lãng làm phiền lòng cha mẹ. Vì cha mẹ là Phật tại gia.

 

       Cha già như Phật Thích Ca,

       Mẹ già chẳng khác Phật Bà Quan Âm.

 

Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân đạo, ta rán hết sức tìm cách ngăn cản khuyên lơn bằng những lời lẽ nhẹ nhàng, trong sạch, lấy lẽ phải trái thiệt hơn, mong cho cha mẹ hồi tâm chuyển ý, bỏ dữ về lành, ăn năn hối cãi. Chứ nên dùng lời lẽ phang ngang hỗn hào với cha mẹ mà mang phải tội, khiến cho cha mẹ tủi thân, trách phận mà phải đau lòng. Vì không có công ơn nào bằng công ơn cha mẹ, không có nghĩa nào sánh bằng nghĩa Cù lao.(2) Ơn cha nghĩa mẹ tựa như non cao, bể cả. Bổn phận làm con là phải giữ cho vẹn tròn chữ hiếu. Tức là ta đã tu vậy.

 

      Tu đâu cho bằng tu nhà,

      Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu.

 

Vì hình vóc của ta là do cha mẹ ban cho ta, ta phải giữ gìn nó, mà có cha mẹ ta là nhờ ở ông bà, tổ tiên ta. Vậy phận làm con chẳng những ta biết ơn cha mẹ mà còn phải biết ơn ông bà, tổ tiên ta nữa. Chẳng những ta biết báo đáp công ơn cha mẹ ta mà ta còn phải biết báo đáp công ơn ông bà tổ, tiên ta vậy. Tránh làm những điều không phải để khỏi mang tiếng xấu cho giòng tộc, tổ tiên. Vào những ngày lễ Vu Lan ta chẳng những cầu nguyện cho cha mẹ được bình an, khỏe mạnh hay siêu thoát về miền lạc cảnh, nếu cha mẹ ta đã quá cố mà ta còn phải cầu nguyên cho ông bà tổ tiên ta được siêu sanh Tịnh Độ, tránh sa địa ngục, thoát khỏi trầm luân, về miền Tây Phương Cực Lạc, an hưởng cảnh an nhàng Bồng Lai. Đó là ta đã làm tròn chữ hiếu, vẹn phận làm con vậy.

 

 

NGUYỄN HOÀI PHƯƠNG TRÚC

 

 

 

Ghi Chú:

 (1)Ngày xưa, người phụ nữ mang thai kiêng cử trang điểm phấn son, vì sợ sanh con ra không có duyên, khó gã cưới.

 (2) Do câu: “ Cửu tự cù lao.” Tức cù lao có 9 chữ: 1. Sinh: Đẻ. 2. Cúc: Nâng đỡ. 3. Phủ: Vuốt ve. 4. Xúc: Cho bú. 5. Trưởng: Nuôi cho lớn. 6. Dục: Dạy dỗ. 7. Cô: Trông nom. 8. Phục: Săn sóc. 9. Phúc: Bảo vệ.