TỪ CẦU MỸ THUẬN 2000
TỚI CÂY CẦU CẦN
THƠ 2008
From
mountains to the sea, wetlands at work for us.
Từ núi ra
biển, các vùng đất ngập phục vụ chúng ta.
World
Wetlands Day 02/02/2004
NGÔ THẾ
VINH
Gửi Nhóm
Bạn Cửu Long
TỚI
TAM NÔNG TRÀM CHIM VẮNG BÓNG CHIM
Rời Sài
Gòn từ buổi sáng sớm, khi chưa có những rối loạn xe cộ và ồn ào tiếng động.
Theo quốc lộ 1A đi về hướng tây nam, qua các tỉnh Long An, Tiền Giang qua huyện
Cái Bè, đổi qua tỉnh lộ 30 tới Đồng Tháp. Do đường chưa tốt lại sợ bị công an “bắn”
[tốc độ xe] nên nhiều đoạn tài xế phải chạy chậm lại, phải mất hơn 6 giờ để qua
một đoạn đường chỉ hơn 200 km. Trên đường luôn luôn thấy cảnh tài xế những chiếc
xe đò chạy ngược chiều, đưa tay ra dấu. Bàn tay chúc xuống là phía trước không
có công an phục kích, bác tài lại yên tâm nhấn ga “phá rào” để vượt qua đoạn đường
có giới hạn tốc độ. Vi phạm luật lưu thông không chỉ bị phạt tiền rất nặng, lại
thêm bị bấm lỗ trên bằng lái xe, ba lỗ là mất bằng_ nên đã làm trùn chân cả những
tay lái giang hồ liều mạng tự nhận là rất “bản lãnh”.
Đến với Đồng
Tháp Mười là đi trên một vùng đất trũng rộng lớn. Có giả thuyết lý thú cho rằng
“có thể nơi đây khi xưa là dấu vết cũ của sông Cửu Long, vì một lý do thiên
nhiên nào đó sông Cửu Long đã bỏ lòng sông cũ để chảy qua vị trí hiện nay. Hai
vùng trũng thiên nhiên rộng lớn là Đồng Tháp Mười và Đồng Cà Mau là hai hồ để
chứa nước sông Cửu vào mùa nước nổi.” [Trần Ngươn Phiêu Đồng Tháp Mười, 2006]
Từ thị xã
Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp, lên tới quận Thanh Bình, để từ đây vẫn theo đường 30
đi về hướng tây bắc. Tới một ngã ba, thay vì đi hướng Hồng Ngự, theo tấm bảng
chỉ dẫn, xe quẹo mặt đi thêm 17 km nữa trên một đoạn đường tráng nhựa hẹp và
khá gập ghềnh để dẫn tới Tràm Chim Tam Nông [TCTT].
Hai bên
đường nhà cửa đang san sát mọc lên, áp lực gia tăng dân số rất rõ, để thấy rằng
Tràm Chim đang trước nguy cơ. Sâu vào lề đường, chúng tôi chú ý tới một ngôi mộ
không phải trên đất mà trên một sàn xi măng khô ráo cao hơn mặt lộ, ngay phía
dưới là đất ruộng ngập nước để thấy Tam Nông nguyên là vùng đầm lầy.
TCTN
trong khu tứ giác các con kinh đào thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long [ĐBSCL]. Với
khí hậu gió mùa, gần xích đạo, nhiệt độ trung bình 27 độ C với biến thiên từ 3
tới 5 độ C trong năm. Độ mưa tương đối thấp khoảng 1500mm/ năm, mùa mưa khoảng
từ tháng 5 tới tháng 11. [Phùng Trung Ngân, Garrulax 6:3-5,1989]
Trong chiến
tranh Việt Nam,
Đồng Tháp Mười nơi từng là trận địa giao tranh ác liệt và là một vùng rất khó
bình định. Mỹ đã thực hiện kế hoạch rút cạn các khu đầm lầy, kết hợp xử dụng chất
khai quang da cam và bom napalm để phá hủy các an toàn khu của Việt Cộng nhưng
đã không thành công.
Sau chiến
tranh do đất chật người đông, người ta vẫn không ngừng rút cạn các khu đầm lầy
qua một hệ thống kinh rạch phức tạp nhưng chỉ là để có thêm đất canh tác.
Năm 1985
khi thấy giống Hạc Đông Phương bắt đầu xuất hiện ở vùng đất ngập nước Đồng Tháp
Mười, các nhà khoa học đã triệu tập một Hội Nghị Hạc Quốc Tế ở Côn Minh thủ phủ
Vân Nam, với sự tham dự của nhiều tổ chức như WWF (World Wildlife Fund), IUCN
(International Union for the Conservation of Nature), ICF (International Crane
Foundation)... nhằm tìm biện pháp bảo vệ Tràm Chim Tam Nông như một khu mẫu mực
“du lịch sinh thái” trong vùng Đông Nam Á. TCTN trở thành một cứ điểm hấp dẫn
cho các nhà khoa học muốn nghiên cứu về đời sống sinh hoạt của các loài di điểu.
Là một
vùng trũng phía tả ngạn sông Tiền, với diện tích 7,588 hecta được giới thiệu
như “mô hình thu nhỏ cảnh quan Đồng Tháp Mười” với hơn 130 loài thực vật, 120
loài cá nước ngọt, 40 loài lưỡng ngư bò sát, hơn 200 loài chim với 16 chủng loại
được coi như quý hiếm; riêng giống Hạc Đông Phương (Eastern Sarus cranes) hay
còn có tên là Sếu Đầu Đỏ, được liệt kê trong Sách Đỏ Thế giới (World’s Red
Book) đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Chỉ mới tám năm, TCTN khu trung tâm Đồng
Tháp Mười được chính thức công nhận là Vườn Quốc Gia Tràm Chim [29-12-1998].
Khu Tràm
Chim chủ yếu là vùng đất ngập nước (wetlands) với rừng tràm (Melaleuca) và các
loại cỏ nước (wet grasslands), mùa lũ vào khoảng từ tháng 8 tới tháng 11, với đỉnh
lũ vào tháng 9, nước có độ sâu trung bình 2.50 m, nhưng vì là vùng thấp nên
Tràm Chim vẫn ngập nước trong mùa khô.
Rất khó để
thấy trụ sở TCTN nằm khuất lấp ở cái điểm mốc cây số 17 ấy. Nhưng rồi chúng tôi
cũng tìm ra. Cô hướng dẫn với một cái tên rất mộc mạc, Nguyễn Thị Được cùng xuống
ghe đi với chúng tôi. Do tới TCTN vào giữa thời điểm mùa lũ nên từ ghe chỉ thấy
mặt nước mênh mông với nhô lên là những khóm tràm, bụi cỏ, bông súng và rất
thưa thớt những bóng chim.
Phải tới
tháng 2-3, vào mùa nước thấp, Tràm Chim là nơi tràn đầy thực phẩm tôm cá sò ốc
hến nên lôi cuốn các đoàn di điểu từ xa trở về kiếm ăn và sinh sản. Không phải
chỉ có giống Hạc Đông Phương; còn phải kể thêm loại chim nước hiếm quý như
Oriental Darter, lesser adjutant stork, Painted Stork, Asian Golden Weaver và
nhiều chủng loại chim khác.
Mới đây
có thêm mối quan ngại về dịch cúm gia cầm H5N1 có nguy cơ lan ra toàn cầu và
các chuyên viên dịch tễ học (epidemiologist) của Tổ chức Y tế Thế giới có nhắc
tới khả năng các đàn di điểu phát tán bệnh đi tứ phương. ĐBSCL cũng là nơi có ổ
bệnh H5N1 cho dù đã được khống chế nhưng không phải không có khả năng tái phát.
Không chỉ
có động vật và các loài chim hiếm quý, trong số hơn 130 loài thực vật, phải kể
tới giống lúa hoang (Oryza rufipogon), cũng đang có nguy cơ không còn nữa.
Trong bài viết về Đồng Tháp Mười, Bs Trần Ngươn Phiêu có nhắc tới loại lúa đặc
biệt này như một độc đáo khác thường được thấy ở Đồng Tháp, đó là loại “lúa trời,
mọc từ lòng đất vươn lên cao khỏi mặt nước, giống như loại lúa nổi. Dân nghèo
dùng xuồng nhỏ, thấp, len lỏi vô các bưng có lúa trời, dùng thanh tre dài lùa đập
các cọng lúa để hột lúa rụng rớt vô xuồng. Đi đập mót lúa trời cũng là một nguồn
sinh sống cho dân cư cùng khổ, không đất canh tác.”
Theo Gs
Phạm Hoàng Hộ “Lúa hoang là giống lúa nổi, có thân dài 1,5 - 4m, thân to 4 -
6mm, với lóng dài 10cm. Lá có phiến dài 20 cm, rộng 1cm... Trước đây có ở ruộng
sâu khắp cùng và rất nhiều ở Đồng Tháp”. [Cây Cỏ Việt Nam 1991. III -
2, tr. 776]
Theo Gs
Võ Tòng Xuân [VTX], “Cây lúa ma hay lúa hoang Oryza rufipogon (OR) mọc hoang ở
các nơi đầm lầy, hoặc dọc theo các kênh mương ở Đồng Tháp Mười, và các vùng nước
sâu trung bình ở các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang. Có một loại khác nữa,
Oryza nivara (ON) mọc chung với OR ở các vùng này. Năng suất rất thấp, khoảng
0.2 đến 0.4 tấn/ ha mà thôi. Ngày nay khi các cánh đồng trong Đồng Tháp Mười đã
phủ kín lúa cao sản thì OR và ON gần như bị tiêu diệt hết.” Gs VTX cho biết,
ông đã đưa cả hai loại lúa hoang này sang giữ
tại IRRI (International Rice Research Institute) tại Banos 60 km nam
Manila, là viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế lớn và lâu đời nhất Á châu.
Tam Nông
còn có những đầm sen và súng tô điểm thêm cho vẻ đẹp cảnh quan của Tràm Chim.
Và rồi cũng
không thể không nói tới một “loại cây bất ưng” đang xâm lấn sinh cảnh của TCTN:
cây Mimosa pigra. Tuy là một giống ngoại lai từ vùng nhiệt đới Nam Mỹ nhưng
đang tràn lan trong vùng trung tâm Tràm Chim gây tác hại trên sinh cảnh và tính
đa dạng sinh học của khu bảo tồn.
Theo Gs
Phạm Hoàng Hộ “Mimosa pigra hay Trinh nữ nhọn là một loại cây cứng cao 2-3 m,
lá khi đụng cũng xếp lại nhưng chậm hơn Trinh nữ mắc cỡ (M. pudica), sóng lá
mang một gai đứng cao 1,5cm giữa mỗi cặp thứ diệp. Hoa đầu vàng, hoa như ở
Trinh nữ. Chụm trái to có lông hoe, dày 10-12 x 1,3-1,6 cm rụng từng đốt chừa
hai bìa lại. Gốc Nam Mỹ, gặp ở các nơi đầm lầy.. .”[Cây Cỏ Việt Nam 1991_ I -2,
tr. 1029]
Theo Gs
VTX, thì “Mimosa pigra còn được gọi là Mai Dương hay Ngưu Ma Vương là một đau đầu
cho nông dân vùng đất ngập nước. Cây này phát tán rất nhanh và rất khó diệt trừ.
Đã có nhiều nghiên cứu quốc tế nhằm tìm biện pháp hữu hiệu để diệt chúng nhưng
đến nay vẫn chưa có kết quả tốt. Vườn bảo tồn quốc gia Tràm Chim Tam Nông, nơi
mà Tổ Chức Hạc Quốc Tế (ICF) đầu tư bảo tồn đàn sếu đầu đỏ quý hiếm, đang bị
Mai Dương lấn áp”.
Do đó,
nhân kỷ niệm “Ngày Đất Ngập Nước Thế Giới” nơi 4 quốc gia ven sông Mekong vùng
Hạ Lưu: Việt Nam,
Cam Bốt, Lào và Thái Lan, với khẩu hiệu “Từ núi ra biển, các vùng đất ngập nước
phục vụ chúng ta_ World Wetlands Day 02-02-2004”
Riêng với
Việt Nam
vùng điểm được chọn là Tràm Chim Tam Nông. Ngoài những nghi thức của một ngày lễ
hội với các cuộc vui đua thuyền, đá banh, diễn kịch... nhưng đáng chú ý nhất đó
là ngày phát động phong trào “lùng và diệt cây Mai Dương, Ngưu Ma Vương hay
Trinh nữ nhọn” và cũng để báo động với dân chúng địa phương là giống Mimosa
pigra kẻ thù nguy hiểm, cần có một chiến dịch lâu dài lùng và diệt loại cây này để bảo vệ sự cân bằng
và đa dạng sinh thái của TCTN.
Từ khi
Tràm Chim đã chính thức trở thành khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia, ngoài số tiền
4 tỉ đồng từ Việt Nam,
còn có thêm nhiều tặng dữ của các quốc gia khác như Đan Mạch, Đức, Nhật... nhằm
bảo tồn khu Hạc và phát triển vùng đệm (buffer zone) của Tràm Chim.
Từ 1995,
Tổ Chức Hạc Quốc Tế đã lên kế hoạch khảo sát các vùng sinh sản của giống Sếu Đầu
Đỏ và kể từ tháng Ba 1998 các nhà điểu học đã khởi sự cho đặt những chiếc vòng
theo dõi điện tử (electronic tracking rings) để khảo sát toàn sinh cảnh và lối
sinh hoạt của giống di điểu này. Chương trình được tài trợ bởi chánh phủ Nhật
và có sự tham gia của các nhà khoa học Nhật, Mỹ và Việt Nam.
Theo cô
Được, hướng dẫn viên của Tràm Chim thì do những ảnh hưởng tiêu cực dây chuyền,
số Hạc cũng như các loại chim hiếm quý trở về ngày càng ít đi vào mùa khô mỗi
năm về sau. Đây là một hiện tượng rất đáng quan tâm đối với các nhà bảo vệ môi
sinh. Từ 20 năm qua là số chim Hạc trở lại Tràm Chim càng ngày càng ít đi: từ
con số 1,052 năm 1988, xuống còn 631 năm 1996, 154 năm 2004 và chỉ còn 90 con
năm 2006 [Source: VNN].
Có thể do
nhiều nguyên nhân: suy thoái môi trường sống trong Tràm Chim với các kinh rạch
mới, các trận lũ bất thường do ảnh hưởng chuỗi đập thượng nguồn Vân Nam, còn phải
kể cả sức ép dân số từ các khu phát triển gia cư, chiếm lấn đất quanh vùng đệm,
nhu cầu lấy nước từ Tràm Chim, bao quanh tràm chim là những cánh đồng lúa với ảnh hưởng độc hại của phân bón hóa chất... Tất
cả đều có tác hại lâu dài tới khu bảo tồn.
Đã thế lại
đang có thêm một công trình làm con lộ vòng đai quanh TCTN để khai thác “du lịch
sinh thái”, với cảnh quan thiên nhiên ngày một thu hẹp, nhìn về tương lai không
xa, hệ sinh thái phong phú của TCTN đang được đếm từng ngày.
Săn bắn
trong khu Tràm Chim tuy bị cấm nhưng thực tế thì vẫn cứ diễn ra, gây sát hại
các loài chim quý kể cả giống hạc.
Các nhà bảo
vệ môi sinh đã rất có lý khi chọn giống Hạc Đông phương như một “chủng loại
quan trọng_ flagship species”, bảo vệ Hạc có nghĩa là bảo vệ cho hơn 120 loài
chim, nhưng xa hơn thế nữa cũng là bảo vệ cho cả một hệ sinh thái trong lành của
ĐBSCL và con sông Mekong mà Tràm Chim Tam Nông là một biểu tượng sống.
...
Tới Đồng
Tháp Mười, khi qua huyện Lấp Vò nơi mà mấy năm trước đây ngư dân đã bắt được một
“con cá đuối nước mặn” khổng lồ dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 kg
trên sông Tiền nhưng khi hỏi thì không ai biết hay đúng hơn là chẳng còn ai nhớ.
Cũng rất ít ai nhớ là chỉ cách đây hơn 30 năm thôi, nguồn tôm cá thiên nhiên ĐBSCL
còn phong phú là thế nào. Nay thì nguồn tài nguyên ấy cạn kiệt và cũng ít ai thắc
mắc tại sao. Không kể Thái Lan, ngay người dân Lào và Cam Bốt từ hai quốc gia
không thể nói là hơn Việt nam, nhưng họ có ý thức về con sông Mekong và có
thông tin nhiều hơn về những con đập khổng lồ Vân Nam chắn ngang dòng chính
sông Mekong. Rồi không thể không nghĩ tới cái địa chỉ nghịch lý “12 Phố Hàng
Tre Hà Nội của Ủy Hội Quốc Gia Sông Mekong Việt Nam” thay vì nơi Đại học Cần Thơ
hay Đại học An Giang.
...
ĐẾN VỚI
ĐẠI HỌC AN GIANG SÁU TUỔI
Về lại
Cao Lãnh để đi An Giang nơi có khu di chỉ Ốc Eo thuộc Vương quốc Phù Nam từ
thế kỷ I đến VI , Long Xuyên với Đại Học An Giang là nơi tôi có hẹn gặp anh Võ
Tòng Xuân. Có một thay đổi bất ngờ là khi tới Long Xuyên, người bạn đồng hành
Nguyễn Kỳ Hùng đã cùng đi với tôi trong chuyến thăm ĐBSCL kỳ thú 7 năm trước,
vì một lý do riêng anh đã lại phải tách ra để trở về Sài Gòn. Rất tiếc những
ngày sắp tới tôi sẽ không có được những tấm hình tuyệt đẹp ĐBSCL qua ống kính rất
nghệ thuật của anh. Lại một cuộc hành trình đơn độc như các chuyến đi Lào và
Cam Bốt.
Đã từng tới
Long Xuyên, trở lại thăm để ngạc nhiên thấy một Long Xuyên, thị xã của tỉnh An
Giang đã có rất nhiều đổi thay và phát triển.
Năm 1970
khi Gs Đỗ Bá Khê đọc bài diễn văn tốt nghiệp khóa đầu tiên của Đại học Cần Thơ,
thì lúc đó An Giang chỉ mới có Trường Sư Phạm Long Xuyên với 4 lớp và 260 giáo
sinh. Phải 30 năm sau, do con số hơn 40 ngàn học sinh tốt nghiệp trung học mỗi
năm tại ĐBSCL, trước tình trạng quá tải của Đại học Cần Thơ, trường Đại Học An
Giang [ĐHAG] được phép thành lập vào tháng 12 năm 1999, rồi công trình xây cất
ĐHAG được khởi công tháng Giêng 2001 năm đầu tiên của Thế kỷ 21, với kinh phí
35 triệu MK trên một diện tích 40 hecta. ĐHAG được hỗ trợ tài chánh từ địa
phương nhưng vẫn chịu sự giám sát chuyên môn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo trung
ương.
Sau Đại Học
Cần Thơ được ra đời vào những năm 1960, ĐHAG là trường Đại học công lập thứ
hai, được xem là trường Đại học trẻ trung nhất ĐBSCL.
Lãnh đạo
nhà trường ngay từ bước đầu chập chững là một khuôn mặt quen thuộc và thân
thương đối với bà con nông dân ĐBSCL: đó là Gs Võ Tòng Xuân, từng là Phó Viện
trưởng Đại học Cần Thơ, ông cũng được biết tới từ trước 1975 như cha đẻ của lúa
cao sản Thần Nông HYV (cao sản, ngắn ngày), là một giống lúa thân lùn với năng
xuất rất cao. Đưa lúa Thần Nông vào ĐBSCL được coi như “bước đột phá” chống đói
giảm nghèo mà Viện Lúa Gạo Quốc Tế IRRI
gọi đó là Cuộc Cách Mạng Xanh về Lúa Gạo. Với một con chim đầu đàn như thế, người ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy ĐHAG
đang phát triển theo hướng kết hợp giảng dạy, nghiên cứu ứng dụng vào công ích.
Một thứ quan niệm R&D (Research and Development) trong các đại học Mỹ.
Trước khi
gặp anh Võ Tòng Xuân, không người hướng dẫn, tôi đã tự xông xáo đi thăm các cơ
sở nhà trường, giảng đường, thư viện và dĩ nhiên cả gặp gỡ nói chuyện riêng với
một số em sinh viên: các em rất trẻ mộc mạc, ăn mặc giản dị, cách nói chuyện chất
phác, và đặc biệt là lễ phép với khách lạ đến thăm. Phải chăng đó là nét đẹp từ
một nền Văn minh Miệt vườn. Chắc chắn các em không phải con của các “đại gia
hay cán bộ cao cấp” của ĐBSCL, bởi vì tệ lắm nếu không là Đại học Sài Gòn thì cũng
đã là những sinh viên du học “tự túc” ở các nước Âu Mỹ, nhất là Mỹ.
Các em là
thế hệ khá thiệt thòi, sinh ra và lớn lên nơi vựa lúa ĐBSCL sau chiến tranh
nhưng lại chỉ được hấp thụ một nền giáo dục trung và tiểu học thấp kém nhất nước,
do thiếu lớp học thiếu thầy cô giáo thua cả Tây nguyên, theo nhận xét của chính
các nhà giáo dục trong nước. Tốt nghiệp trung học trong một tình trạng mất căn
bản như vậy, khi bước lên đại học, chỉ có lòng hiếu học cao độ mới giúp các em
vượt qua được khoảng cách đại dương ấy.
ĐHAG hiện
có tầm vóc khiêm tốn của một Đại Học Cộng Đồng (Community City
College) còn đang phát triển.
Quanh sân trường, đây đó còn những đống gạch cát của công trình đang xây cất dở
dang. Thư viện khá đẹp như khuôn mặt chính của nhà trường với hai từng lầu, gọn
sạch ngăn nắp, tổ chức sắp đạt theo tiêu chuẩn Mỹ, với cả một giàn máy điện
toán PC cho sinh viên sử dụng. Sinh viên nam nữ tự động sắp hàng trật tự trước
các quầy để mượn và trả sách. Sách mới, sách khoa học tiếng Anh phải kể là còn
rất ít nhưng bù lại các em đã biết truy cập vào “internet” để có một số thông
tin mà các em cần.
Buổi
sáng, bước vào một giảng đường lớn, đông đảo sinh viên thuộc nhiều khoa và các
lớp khác nhau, trên bục giảng là Gs VTX, với đề tài rất cơ bản “Phương pháp
Khoa học
và Lộ
trình Nghiên cứu.” Cho dù đi vào từ phía sau giảng đường cũng không còn một chỗ
trống, một em tự động đứng dậy nhường chỗ cho khách (sau này có dịp nói chuyện,
tôi được biết là một sinh viên năm thứ tư sắp ra trường).
Bài giảng
khúc triết và dễ hiểu để ứng dụng đối với các sinh viên khi phải làm một luận
văn/ một thứ luận án nhỏ như điều kiện để tốt nghiệp ra trường. Luận văn ấy sẽ
là nỗ lực cá nhân của sinh viên hướng về giải quyết các vấn đề thực tiễn liên
quan đến phát triển kinh tế xã hội của vùng ĐBSCL. Riêng với tôi thì phần lý
thú nhất trong bài giảng sáng hôm đó vẫn là những ví dụ nghiên cứu về “lúa gạo”
của nhà nông học Võ Tòng Xuân.
Sau lớp học,
tôi được gặp anh Xuân. Tuy gặp nhau lần tiên nhưng từ nhiều năm “văn kỳ thanh”,
tôi đã theo dõi những bước đi của anh, anh cũng đã là nguồn cảm hứng về “nhân vật”
khi tôi viết Cửu Long Cạn Dòng chúng tôi đã có ngay một mẫu số chung để nói
chuyện với nhau. Phong cách giản dị, không nghi thức, anh Xuân tự tay pha trà
tiếp tôi trong văn phòng Hiệu trưởng_ mà tôi thì vẫn quen gọi là Viện trưởng,
căn phòng khá nhỏ, trông lại càng nhỏ chật hơn với ngập những sách. Trong số
sách ấy, tôi cũng thấy cuốn Cửu Long Cạn Dòng, ấn bản đầu tiên của nhà xuất bản
Văn Nghệ năm 2000, cũng là thời điểm Đại Học An Giang mới tuổi “thôi nôi”.
Buổi trưa
hôm ấy, tôi đã ngồi Honda ôm với anh VTX thay vì xe hơi, để xuống phố cùng với
mấy cộng sự trẻ của anh dùng bữa ăn trưa với canh chua cá bông điên điển, cá
kho tộ và có cả gỏi tôm ngó sen, toàn những món đặc sản của ĐBSCL.
Sau bữa
ăn trưa ngắn ngủi, nửa ngày còn lại là một ngày ngập bận rộn của anh Xuân. Anh
để tôi tùy nghi chọn lựa tham dự các sinh hoạt ấy. Như buổi trình luận án cấp
trường của một giảng viên ĐHAG do anh Xuân chủ trì. Luận án liên quan tới những
con số thống kê, những khiếm khuyết trong cách thu thập và phân tích dữ kiện đều
được hội đồng giám khảo nhận xét, thí sinh có cơ hội được phản biện; cuối cùng
thì thang điểm được cộng lại: chỉ đạt 52% số điểm có nghĩa là luận án không được
thông qua. Cùng một lúc ở một giảng đường khác, là một buổi nói chuyện của một
kỹ sư người Mỹ gốc Việt từ Florida về,
dùng laptop và power point để giới thiệu với sinh viên về chiếc máy xấy lúa “tiết
kiệm” do anh sáng chế. Cũng buổi chiều hôm ấy, có hai phái đoàn khách tới thăm,
một đoàn từ đại học USC (University
of Southern California) tới
đây, ai cũng muốn được gặp Gs VTX.
Anh Xuân
có những cộng sự viên trẻ, tốt nghiệp ở ngoại quốc từ nhiều nguồn khác nhau, lớp
trẻ này có kiến thức khả năng và nhiệt tình nhưng chưa tới tầm vóc để có thể
thay anh. Họ về với anh Xuân, về với ĐHAG vì họ biết đó là tương lai. Với trình
độ chuyên môn và khả năng ngoại ngữ ấy nếu đi làm cho các công ty tư nhân ngoại
quốc như Đài Loan Đại Hàn chắc chắn họ sẽ với một số lương bổng cao hơn gấp nhiều
lần. Cô Giám đốc phòng giao dịch quốc tế là một Ph.D. về giáo dục về từ đại học
USC. Tổ chức thư viện và thiết kế website của ĐHAG là một kỹ sư có bằng MSc. tốt
nghiệp ngành vi tính (computer sciences) từ một Đại học Miền Đông Hoa Kỳ, cho
dù nhiệm vụ chính của anh vẫn là giảng dạy về Tin học; được biết anh cũng vừa
được một Đại học Úc châu nhận vào chương trình Ph.D. trong năm tới. Cô nhà báo
HV, xuất thân từ báo Tuổi Trẻ, tác giả nhiều bài ký và những bức hình chụp sinh
động, nay cũng đã tự nguyện về với ĐHAG, cô ấy cũng được khuyến khích đi học
thêm về báo chí ở Đại học Columbia New York... Ngoài ra, còn phải kể tới nguồn
Voluntary Faculty những giáo sư ngoại quốc thỉnh giảng tình nguyện. Anh Xuân
cho biết tuy là trên căn bản tự nguyện nhưng ĐHAG vẫn tìm cách trả lương họ
theo quy chế.
Một “sự cố
vui bên lề” là đã có một ông giáo sư thỉnh giảng tới với ĐHAG nhưng vì “đi một
về hai” nên nhà trường đã có một tổn thất phụ (collateral damage) về nhân sự.
Nhiệm vụ
của ĐHAG cùng với ĐH Cần Thơ, là đào tạo nguồn nhân lực và nhân tài cung ứng
cho các bước phát triển kinh tế và xã hội của ĐBSCL nhằm “tăng cường khả năng hợp
tác và cạnh tranh, khả năng hội nhập vào thị trường quốc tế” khi Việt Nam sắp
chính thức gia nhập WTO.
Tình trạng
thực tế hiện nay, tỉnh An Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung không chỉ thiếu
cán bộ có trình độ đại học và trên đại học trong các ngành kinh tế xã hội mà
còn rất thiếu cả một đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề trong các lãnh vực
công nghiệp chế biến thủy sản và nông phẩm, công nghệ sinh học và phát triển du
lịch.
Với hướng
đi từ nay tới 2010, dự trù sĩ số sinh viên sẽ lên tới 10,000 với chương trình
đào tạo 4 năm cho các ngành như sư phạm, canh nông, công nghệ thực phẩm thủy sản,
công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ sư điện toán, kỹ thuật môi trường /
environment engineering, quản trị kinh doanh nông thôn...và mục tiêu đào tạo là
làm sao đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các thành phần kinh tế [biện pháp đào tạo theo-địa-chỉ các doanh
nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân chứ không phải với tương lai sinh viên
tốt nghiệp chỉ là những công chức nhà nước].
Phải nói
rằng số lượng giảng viên hiện nay của nhà trường còn rất hạn chế, với sĩ số 600
chỉ có 50% có bằng thạc sĩ (Master) và một số
rất ít tiến sĩ (Ph.D). Qua các em, tôi được biết anh Xuân không ngừng
khuyến khích và tìm cơ hội gửi các giảng viên trẻ của ĐHAG đi ngoại quốc học
thêm để tăng cường chất và lượng cho ban giảng huấn. Và cũng có cả kế hoạch thu
hút thêm những nguồn chất xám mới đổ về. Nhiều hứa hẹn nhưng cũng thật nhiều
thách đố cho một Đại học còn non trẻ như ĐHAG.
Ngoài chức
vụ lãnh đạo ĐHAG, riêng anh Xuân còn những dự án dở dang khác: (1) tìm gene giống
lúa mới chịu được nước lợ do Cửu Long Cạn Dòng và thêm nhiễm mặn; (2) vận động
nông dân ĐBSCL áp dụng kế hoạch “3 giảm 3 tăng” trong đó có giảm thuốc trừ sâu
rầy để giảm nhiễm độc đã tới mức độ nguy hiểm cho môi trường sống; (3) lập khu bảo tàng cây lúa
ĐBSCL với sưu tập tất cả các nông cụ mà tiền nhân đã sử dụng từ thủa khai
hoang.
Và còn
nhiều nữa, anh Xuân có theo dõi và biết rõ hậu quả những con Đập Vân Nam và các dự án chuyển dòng lấy nước sông
Mekong của Thái Lan ra sao trên ĐBSCL, mà theo anh Việt Nam cũng chẳng thể phản đối được
gì. Trước nghịch cảnh, anh tìm cách làm
sao để biến những “bất cập” hiện nay thành “thuận lợi” như phát triển ngành
nuôi “tôm xú” nuôi “cua biển” nơi vùng nước lợ đem lợi tức cho nông dân cao hơn
là trồng lúa; áp dụng kỹ thuật tưới luân phiên mà vẫn bảo đảm năng xuất lúa ở
vùng thiếu nước khi Cửu Long Cạn Dòng... Hình như lúc nào anh Xuân cũng thiếu
thời gian cho một ngày chỉ có 24 giờ, bản chất người Nam, anh vẫn lạc quan; luôn
luôn nhìn thấy nửa phần đầy của ly nước thay vì là nửa vơi.
Tre già
măng mọc, anh Xuân đang lo vun trồng thế hệ măng tiếp nối anh. Hẹn ngày tái ngộ
với ĐHAG, lần tới khi trở lại ĐBSCL mong sẽ có dịp đến thăm Bảo Tàng Cây Lúa của
anh Xuân.
Ô NHIỄM
TRÊN NHỮNG XA LỘ NÂU
Xuống ghe
từ bến Ninh Kiều, buổi sáng sớm tinh sương, dòng sông Hậu trải rộng mênh mông
và thoáng mát. Chiếc ghe máy chạy ngược dòng để tới kịp hai chợ nổi Phong Điền
và Cái Răng, giờ cao điểm. Vẫn cảnh tượng các ghe thuyền lớn nhỏ từ các nhà vườn
chở đầy rau trái theo các ngả kinh rạch hướng về khu chợ nổi để bán cho lái thu
mua. Vẫn hình thức tiếp thị là những cây sào cao treo lủng lẳng các mẫu nông phẩm
như trái su, bắp cải, chuối dừa... là những
thứ có bày bán trong mỗi ghe. Rõ ràng thiếu cái tấp nập và phong phú của rau
trái cũng vào tháng này cách đây 7 năm: ít hơn về chủng loại và số lượng.
Thay cho
bữa ăn sáng nay là một ly cà phê sữa nóng mua từ một chiếc ghe nhỏ len lách giữa
khu chợ nổi.
Đến 9 giờ
sáng, ghe tàu trên sông càng thêm tấp nập, cả thêm những chiếc ghe của công ty
du lịch đưa khách du ngoạn ven sông và lên khu chợ nổi. Rất ít ghe còn dùng
chèo, kể cả những chiếc ghe nhỏ cũng chạy bằng máy đuôi tôm. Những chiếc ghe bầu
và xà lan chở khẳm cát vật liệu xây dựng thì chạy bằng máy dầu cặn. Khói dầu trải
dài trên mặt sông mùi khét nồng, cũng để hiểu tại sao không phải chỉ có ở Sài
Gòn, trên sông nước Miền Tây, trên các con phà đã có cô gái Cửu Long phải mang
khẩu trang vì không khí ô nhiễm.
Không kể
những hóa chất độc đã tan trong nước không còn thấy được, nhìn những búi cỏ rác
khô và cả những túi rác ni lông đủ màu chưa bị phân hủy nổi trôi giữa những đám
lục bình, cũng để thấy rằng con sông Mekong đang là cống rãnh của các chất phế
thải kỹ nghệ và cả rác rưởi của tiện dụng gia cư. Cảnh ấy diễn ra khắp nơi:
ngay trên sông Sài Gòn từ một Nhà hàng nổi, bao nhiêu đồ thải rác rến cũng được
hất xuống sông. Cảnh chiếc ghe máy bất chợt phải khựng lại vì chân vịt vướng đầy
cỏ rác khiến tài công phải lặn sâu xuống nước để tháo gỡ. Ít nhất hai lần như vậy
chỉ trong nửa buổi sáng ngược dòng sông Hậu.
Không chỉ
trên bộ, mà cả ven sông thường thấy xuất hiện những tấm bảng hiệu Làng hay Ấp
Văn Hóa nhưng cạnh đấy vẫn là cảnh phóng uế hay xả rác xuống sông và người dân
thì vẫn dùng nguồn nước ấy cho tắm giặt, rửa rau, nấu nướng_ nghĩa là rất thiếu
vệ sinh và văn hóa. Mặt trời càng lên cao, cái nóng ẩm của khí hậu nhiệt đới cảm
nhận được từ tấm lưng thấm đẫm mồ hôi.
Vào nghỉ
trưa nơi khu Vườn Trái Cây Phong Điền sát ngay mé sông, chủ nhân là một nhà
giáo tuổi ngoài 70 đã về hưu nhưng còn tráng kiện. Ông góa vợ sống với con trai
và cháu nội, ông cũng có con ở Canada.
Trường hợp góa vợ của ông là một mối thương tâm, bà khỏe mạnh chỉ đau thấp khớp
nhưng đã chết ở tuổi ngoài 50 chỉ vì mũi thuốc chích vào sống lưng của ông bác
sĩ từ ngoài bắc vô. Vợ ông bác sĩ sợ quá tới năn nỉ xin dừng kiện tụng và rồi
ông cũng bỏ qua. Đã 20 năm rồi, ông bác sĩ từ Hà Nội vô ấy thì nay cũng đã chết.
Cũng được biết ông giáo là người đầu tiên có sáng kiến lập ra nhà vườn Trái
Cây, mở đầu cho một phong trào “du lịch sinh thái” nơi ĐBSCL sau đó. Trong vườn
có lạch câu cá, chòi lá và võng treo dưới những tàn cây xanh cho khách nghỉ
ngơi và dĩ nhiên đủ loại cây trái theo mùa. Tôi cũng được ông giáo mời lên thăm
khu nhà thờ họ với bàn tủ thờ và câu đối có từ ngót 300 năm. Trước khi trở xuống
ghe, tôi còn được ông giáo mời viết ít dòng trong sổ lưu niệm, với trước đó đã
có ghi bao nhiêu lời khen tặng bằng đủ thứ ngôn ngữ của những khách vãng lai tới
trước.
Cũng trên
đường về, không xa chợ nổi Cái Răng, tôi bảo tài công ghé ghe vào thăm một ngôi
chợ ven sông chợ Lê Bình, tới khu chợ cá thật nghèo nàn hơn tôi tưởng, thua xa
chợ Nongkhai Thái Lan, nơi đây chỉ còn thấy những rổ cá nhỏ, cá ba sa, cá rô,
lươn ếch mà đa số là những mớ cá nuôi. Trông thật nản lòng.
Cũng
trong chuyến đi này, mỗi khi ghé vào các nhà hàng đặc sản, câu hỏi của dân được
xem là sành điệu [chưa hề được nghe chỉ mấy năm trước đây] khiến khách phương
xa phải ngạc nhiên: “Cá sông hay cá nuôi ?” Bởi vì cá thiên nhiên bao giờ cũng
ngon hơn, giống như gà thả vườn được ưa chuộng hơn gà kỹ nghệ nuôi trong lồng.
Kỹ nghệ nuôi thủy sản đã phát triển để thay thế cho nguồn tài nguyên thiên
nhiên ngày càng cạn kiệt, chẳng đủ để cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của
con người. Lại có nhà hàng bắt đầu quảng cáo món thịt ngựa, chắc chắn không phải
ngựa nuôi từ ĐBSCL mà nhập từ xứ Kangaroo Úc châu.
Trên đường
đi, với một chút kỷ luật về ăn uống như không ăn rau sống, không dùng nước đá,
chỉ uống nước đóng chai và ăn trái cây còn nguyên vỏ... [giống như các chuyến
đi Vân Nam,
Lào, Cam Bốt kể cả Thái Lan], tôi đã tránh được nhiều phiền toái về bệnh đường
ruột của khách du lịch. Lại đang có dịch H5N1, nên cũng tránh các món thịt gia
cầm. Các bữa ăn cùng bác tài chủ yếu là mấy món ăn nóng như canh chua cá [cá
kèo, cá diêu hồng] nấu với bông điên điển, cá trê kho tộ, tép rang hay thịt kho
nước dừa. Duy có món cá tai tượng chiên xù, không chỉ rất ngon mà cách trưng
bày đẹp chúng tôi được thưởng thức cách đây 7 năm, bên bờ sông Cổ Chiên, nay
nhà hàng không còn nữa. Thêm một Món Lạ Miền Nam chữ của nhà văn Vũ Bằng, lần đầu
tiên chúng tôi được ăn món búp hoa thiên lý sào tỏi rất lạ miệng và ngon.
Cạn kiệt
nguồn thủy sản thiên nhiên, điều này thêm một lần nữa xác nhận câu phát biểu của
Gs Võ Tòng Xuân, cách đây một năm trong cuộc phỏng vấn của đài RFI [10.10.2005]
với phóng viên Ánh Nguyệt: “Thủy sản sông Mekong
nói chung đang giảm về lượng màø kể cả số loài cũng giảm. Tuy nhiên hiện nay ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long, nguồn thủy sản sản xuất chính là do mình nuôi, đánh bắt
chỉ chiếm số ít thôi. Tình hình này không giống như hồi năm 1975, lúc mới hoà
bình; lúc đó có thể nói là cá tôm rất nhiều, nhưng bây giờ nguồn thủy sản do
nuôi trồng là chính. Tính ra lượng cá xuất
khẩu của Việt Nam
thì cá nuôi chiếm phân nửa, còn phân nửa còn lại là cá đánh bắt ở ngoài đại
dương chứ phần đánh bắt trên sông không có bao nhiêu. Cá đánh bắt trên các dòng
sông chỉ là phần của những gia đình nông dân sống dọc theo các bờ sông , họ
đánh bắt hay chài lưới giúp họ sinh sống thêm vậy thôi...”
Có một hiện
tượng khách quan là dòng chảy sông Cửu Long ngày càng yếu đi ở nhiều khúc sông
nhất là vào mùa khô, [dòng chảy đo được ở Nam Vang chỉ còn 1,600 m3/ giây thay
vì 2,000 m3/giây như trước đây], khi xuống tới ĐBSCL chắc còn yếu hơn. Có thể
do hiện tượng cạn dòng này, khiến một số nơi bắt đầu trồi lên những cồn cát.
Ngay ven
sông Hậu, từ nhà hàng Hoa Sứ nhìn ra,
dân địa phương cho biết giữa sông đang tạo hình một cồn cát chưa đủ cao đê nhô
lên khỏi mặt sông, nhưng ghe tàu đi qua phải tránh để khỏi mắc cạn. Người ta chỉ
đơn giản cho đó là hiện tượng thiên nhiên. Còn yếu tố nhân tạo thì sao? Không
ai thắc mắc và nghĩ tới.
Lại đang
có thêm một phong trào rất tự phát, là tư nhân “xây kè” lấn sông không phải để
ngăn lở mà để có thêm đất. Ngay từ nhà hàng Hoa Sứ ấy, lấn ra sông cả 5 mét,
người ta đang xây một tấm vỉ xi măng cốt sắt kiên cố ngăn sông mà dân địa
phương gọi là “kè”. Ai cho phép và ai có phương tiện sắt thép xi măng để thực
hiện một công tác đại trà ấy nếu không phải là thế lực của các đại gia hay cán
bộ cao cấp. Điều đó đang diễn ra trước mắt và hàng ngày. Liệu có cần bộ luật mới
để bảo vệ và cứu lấy những dòng sông trước nguy cơ ?
CÂY CẦU
CẦN THƠ VÀ GÓI THẦU III TRUNG QUỐC
Ngày
25/09/2004, Thủ tướng Phan Văn Khải đã khởi động công trình xây cất cầu Cần Thơ
bắc ngang sông Hậu và khi hoàn tất sẽ là cây cầu treo dài nhất Đông Nam Á.
Công
trình dự trù hoàn tất vào cuối năm 2008, cũng đánh dấu thời điểm chấm dứt đoạn
“qua phà” cuối cùng trên quốc lộ 1A nối liền hai tỉnh Vĩnh Long và Hậu Giang.
Đây là một trong hai công trình được coi là lớn nhất của ĐBSCL, công trình kia
là Dự án Phức hợp Dầu khí- Điện- Phân bón Cà Mau [Ca Mau
Gas-Electricity-Fertilizer Complex].
Tiếp theo
sau cầu Mỹ Thuận dài 1,535 m bắc qua sông Tiền nối hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh
Long hoàn tất năm 2000; Cầu Cần Thơ có chiều dài 2.75 km, rộng 26 m với 4 đường
xe chạy 2 chiều. Cầu có độ thoáng cao 39 m khiến các tàu lớn 15,000 tấn vẫn có
thể lưu thông qua lại. Nếu tính cả Đường dẫn tới hai đầu cầu thì chiều dài của
công trình sẽ là 15.85 km, sẽ thay thế hệ thống Phà Cần Thơ đang phải chuyển tải
hơn 20,000 chuyến xe, 87,000 khách qua sông mỗi ngày, và như vậy chắc chắn sẽ
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và cải thiện mức sống của
ngót 20 triệu cư dân vùng ĐBSCL. Cầu Cần Thơ được đánh giá là một thành tố quan
trọng để thu hút đầu tư ngoại quốc và cả từ trong nước trong kế hoạch phát triển
vĩ mô của Tây Đô tới năm 2010.
Tổ hợp
nhà thầu bao gồm các công ty Taisei, Kajima, Nippon Steel Co., Công ty Xây dựng
Trung Quốc; dưới sự giám sát của công ty
tham vấn Nippon Koei-Chodai, kinh phí xây cất cầu Cần Thơ với tổn phí cao nhất
lên tới 342.6 triệu MK và cũng là cây cầu dài nhất của cả nước. Trong buổi lễ động
thổ, Osamu Shiozaki Tổng lãnh sự quán Nhật tại TP Sài Gòn cho biết ODA của Nhật
(Official Development Assistance) đã viện trợ cho Việt Nam từ 1992 số tiền lên
tới 7.4 tỉ MK để xây dựng 70 cây cầu trên quốc lộ 1A.
Theo
Vietnam News [vnagency.com.vn] thì cầu Cần Thơ sẽ là cây cầu “thứ ba” bắc ngang
sông Mekong thuộc Vùng Hạ Lưu, sau cây cầu Hữu Nghị Mittaphap nối Vạn Tượng và
Nongkhai Thái Lan, cây cầu Mỹ Thuận nối hai tỉnh Tiền Giang và Vĩnh Long. Nhưng
theo tác giả bài viết này thì chi tiết trên không chính xác: cầu Cần Thơ [2008]
sẽ là cây cầu “thứ năm” sau 4 cây cầu: (1) Mittaphap (04/ 1994), (2) Lao-Nippon
Bridge/ Champassak [Lào Thái 08/ 2000],
(3) Kompong Cham Japanese Bridge [Cam Bốt, 12/ 2001], (4) Mỹ Thuận (Việt Nam,
05/ 2000).
Tiến
trình xây cất cầu Cần Thơ đến nay được xem là “khá chậm” khiến có mối lo ngại
là thời điểm hoàn tất vào năm 2008 có khả năng khó đạt được.
Dự án cầu
Cần Thơ gồm 3 Gói Thầu [Contract Packages]: Đường dẫn vào cầu phía Vĩnh Long do
các nhà thầu địa phương Việt Nam [gói thầu 1, Thăng Long, Cienco 6, Cienco 8]
có tiến độ chậm nhất, trong khi công trình xây cầu chính [gói thầu 2, Nhật] và
Đường dẫn vào cầu phía Cần Thơ [gói thầu 3, Trung Quốc] được coi tiến triển khả
quan.
Riêng gói
thầu 3, có tên là : “Dự án Xây dựng Đường Tránh QL1 cầu Cần Thơ” do Công Ty Xây
Dựng Quốc Gia Trung Quốc đảm trách, là một tuyến đường dài 7,690 m, rộng 24.1
m, với 4 đường xe chạy cùng 9 cây cầu phụ với tổng chiều dài là 1,165 m, với
nút giao số 3 có “cầu vượt_ flyover” qua QL 91B, một trạm thu phí 10 cửa, cùng
với một khu dịch vụ rộng 21,000 m2. Khởi công ngày 25/02/2005 với 1365 ngày và
dự trù hoàn thành ngày 21/11/2008.
Do không
thể tiếp cận với công trường xây cầu Cần Thơ bằng đường bộ vì là toàn là những
khu cấm, nhưng bằng đường sông tôi đã có thể tới rất gần các khu đang xây dựng ấy:
tới với những giàn khung sắt thép khổng lồ, những cần cẩu cao vút trên nền trời
xanh. Và cũng ngạc nhiên khi thấy gần khối sắt thép ấy lại có một chiếc ghe cào
nhỏ, đang bám sát vào một chiếc chân cầu mới xây trơ trọi giữa sông: trên chiếc
ghe đó chỉ có một người đàn bà và đứa con trai nhỏ. Hỏi ra mới được biết là ông
chồng thì đang lặn xuống dòng nước nâu chảy siết để vớt những khúc thép dư dưới
chân cầu. Vớt được bao nhiêu, bán được bao nhiêu mỗi ngày thì không biết nhưng
quả là một lối mưu sinh mới vô cùng nguy hiểm.
Sau bến
phà Mỹ Thuận, rồi ra từ 2008 bến phà Cần Thơ cũng sẽ đi vào quá khứ. Và Con Đường
Cái Quan sẽ xuyên suốt từ ải Nam Quan xuống tới mũi Cà Mau; nhưng nếu nhìn xa,
Con Đường Cái Quan không dừng lại ở đó, bởi vì trong tâm khảm mỗi người Việt_
Con Đường ấy còn thêm cả khúc đường biển tiếp nối ra tới Hoàng Sa và Trường Sa.
Đó cũng là một gợi ý cách đây 7 năm của người viết với tác giả bản trường ca
Con Đường Cái Quan. Chắc ông không còn nhớ buổi nói chuyện với tôi trong căn
nhà thân thuộc nơi thị trấn Giữa Đường; và cũng hôm ấy, nhạc sĩ Phạm Duy có ký
tặng tôi bức ảnh ông đang đổ rượu trên mộ Văn Cao khi ông lần đầu tiên trở về
thăm Việt Nam. Bây giờ ở cái tuổi 85, trên báo chí, thấy ảnh ông cùng mấy người
con đang trở lại để một lần nữa đi suốt Con Đường Cái Quan ấy. Trước viễn ảnh một
Biển Đông Dậy Sóng, những dòng chữ này một lần nữa gửi tới ông, vẫn với tâm cảnh
của “tam