Thân hữu CHÂU ĐỐC trân trọng giới thiệu bài viết này của Bác Sĩ
NGÔ THẾ VINH,trong quyển sách tiểu thuyết biên khảo CỬU LONG CẠN DÒNG BIỂN ĐÔNG
DẬY SÓNG của ông,do nhà xuất bản VĂN NGHỆ tái bản lần thứ 1 năm 2001.Bài này là
một chương đặc sắc có phần đề cập đến Đức Phật Thầy Tây An và quê hương CHÂU ĐỐC
của chúng ta, do thời gian hạn hẹp do sự khẩn thiết của vấn đề cần phải báo động
do không thể liên lạc được với tác giả để xin phép trích đăng ,nhân nơi đây
chúng tôi xin chân thành tạ lỗi với Tác Giả với Nhà Xuất
ĐỨC PHẬT
THẦY VÀ NHỮNG TẤM BIA CÀN LONG VÂN NAM
L’eau est devenue chère, et elle le sera encore plus à
l’avenir, ce qui en fera l’ “or bleu” du XXIe siècle.
Ricardo Petrella, 3/2000
TỪ GIANG THÀNH TỚI CHÂU
ĐỐC TÂN CƯƠNG
Đồng Bằng Sông Cửu Long có
sức cuốn hút lạ thường, với Cao đó vẫn là vùng đất mới còn biết bao nhiêu điều về lịch sử, địa
dư và con người ... từ bấy đến nay Cao tự thấy vẫn chưa thể nào thấu hiểu hết
được.
Như chỉ riêng một vùng Thất
Sơn kỳ bí với núi rừng trùng điệp nằm dọc theo con Sông Hậu thuộc “Châu Đốc Tân
Cương” – được coi như địa giới cuối cùng
của cuộc Nam Tiến mà thấy như đã đầy ấp quá khứ với bao nhiêu tên tuổi nhân vật
đã trở thành huyền thoại như : Chưởng Cơ Nguyễn Hửu Cảnh với đám lưu dân hai
huyện tiên phong đi về Phương Nam – đi vạch một chân trời, như Thoại Ngọc Hầu
khai quốc công thần từ hai thế kỷ trước
khai phá miệt Hậu Giang đào con kênh Vĩnh Tế chiến lược từ Châu Đốc xuống
tận Hà Tiên giữ yên bờ cõi mới.
Rồi Phật Thầy Tây An là
nhân vật với bao điều bí ẩn và cả những truyền thuyết. Chỉ với một chiếc xuồng
bần con, một miếng tre nhỏ làm chèo, một túi thuốc, tự Thầy chèo chống qua các
ngả sông rạch tìm đến những người đau yếu chữa bệnh cho họ và rồi cứu cho dân cả
một vùng Tòng Sơn Sa Đéc quê Thầy thoát
khỏi trận dịch tả hoành hành khủng khiếp. Do uy danh của Phật Thầy ngày càng
lan rộng gây kinh động cho nhà cầm quyền nên thầy bị bắt gán cho tội danh là
“gian đạo”. Nhưng rồi Thầy cũng được thả
ra nhưng bắt phải thế phát – xuống tóc giống như hàng tăng sải khác. Sau đó Thầy
về Châu Đốc , tới Núi Sam – thay vì xây chùa thì thầy lập ra các Trại Ruộng, để
chính thầy tự tay cuốc tay cày, làm gương khuyên dạy tín đồ tinh thần tự lập tự
cường tay làm hàm nhai chứ không nên ỷ lại nhờ vào bá tánh.
“Trại Ruộng” như một kiểu điền trang dân dã:
hai trại đầu tiên ở Thới Sơn Bảy Núi và sau đó thêm một trại Bửu Hương Các ở
Láng Linh giao cho đệ tử ruột của thầy là Đức Cố Quản Trần Văn Thành trông coi.
Khi nổ ra cuộc kháng chiến
chống Pháp – trong đó có cuộc Khởi Nghĩa Bảy Thưa vùng ranh Long Xuyên – Châu Đốc
thì các Trại Ruộng mặc nhiên trở thành những căn cứ hậu cần của kháng chiến.
Có thể nói các
“Kibboutzim” của Do Thái buổi sơ khai lập quốc vào những năm 40 – 50 được thế
giới ca ngợi và cả chính Cao thời sinh viên rất ngưỡng mộ và rồi cả “Phương Bối
Am” của Thích Nhất Hạnh manh nha hình thành giữa cuộc chiến tranh Việt Nam thực
ra chỉ là một trò mô phỏng rất muộn màng mãi về sau này “công thức Trại Ruộng”
của Đức Thầy đã có cách đó cả hơn một thế kỷ.
Thầy tu luyện không phải ở
chùa lớn mà trong một “cốc” nhỏ nơi mà sau này là chỗ xây cất nên Tây An Cổ Tự
uy nghi và tráng lệ như bây giờ.
Tên tục Đoàn Minh Huyên
danh hiệu Phật Thầy danh đạo là Bửu Sơn Kỳ Hương – núi báu mang hương lạ, hình
thức thờ phượng đơn giản không xây chùa không tượng cốt chỉ có một tấm lụa đỏ –
trần điều tượng trưng cho đấng tạo hóa huyền vi. Giáo lý của thầy thì lại rất gần
gũi với đời thường nghĩa là một thứ Đạo Phật dấn thân “không theo đời mà bỏ đạo,
cũng không theo đạo mà bỏ đời”.
Thầy chủ trương “Tứ Đại Trọng
Ân” mà tín đồ quen gọi là “Tứ Aân Hiếu Nghĩa” bao gồm : ân với Tổ tiên cha mẹ,
ân với đất nước , ân Tam Bảo Phật Pháp Tăng và cuối cùng là ân đồng bào và nhân
loại – mới xem ra tưởng quá giản đơn nhưng lại là giềng mối sau xa của đạo. Gạn
lọc những chuyện huyền hoặc mê tín dị đoan mà đám đệ tử cố gán cho Thầy thì giữa
lúc đạo suy vi Thầy là người có công hoằng dương đạo pháp, đem đạo vào đời –
không phân biệt chủng tộc tôn giáo chỉ lấy từ bi bác aí mà rao giảng với nhân
loại chúng sinh. Đó cũng là mô thức rất sớm của một nền văn hóa hòa bình chuẩn
bị cho xu hướng Toàn Cầu Hoá – Globalization khi nhân loại bước vào Thiên Niên
Kỷ Thứ Ba.
NGƯỜI HOA NƠI ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Người Hoa đã đến và sống
trên dải đất Việt Nam cả mấy ngàn năm rồi, từ thời còn là Giao Chỉ bộ dưới quyền
thống trị của Trung Hoa. Và trong suốt dòng lịch sử dựng nước và giữ nước, người
Việt phải liên tục chống cự lại sự xâm lấn và đồng hóa của tộc Hán –
Sinicization ở phía Bắc. Cũng rất sớm từ Bắc chí Nam, cộng đồng người Hoa sống ở
Việt Nam tuy không trực tiếp nắm những chức vụ chánh quyền nhưng hình như họ đã
chiếm lĩnh toàn bộ sinh hoạt kinh tế của người Việt và nghiễm nhiên trở thành một
thế lực chánh trị thách đố với moị chế độ cầm quyền.
Đã thế,mỗi thời kỳ nóng lạnh,
mỗi biến động của một nước Trung Hoa cường thịnh hay suy yếu đều không thể
không ảnh hưởng mạnh mẽ tới cả khu vực Đông Nam Á Thái Bình Dương – mà gần cận
nhất là Việt Nam.
Kinh nghiệm Miến Điện, năm
1949 khi Tưởng Giới Thạch thua chạy ra đảo Dài Loan thì đám tàn quân gồm nguyên
một sư đoàn với chủ tướng là Lý Mỹ đã tràn xuống chiếm đòng khu Bắc Miến, sau
đó trở thành một đội quân thổ phỉ cướp bóc lương thực cả sản xuất lưu hành ma
tuý trong khu Tam Giác Vàng gây cảnh đau thương chết chóc cho dân chúng Miến
trong suốt nhiều năm và tình hình cũng chưa hẳn yên sau bao nhiêu cuộc bình định
vất vả của chánh quyền Rangoon và có cả sự giúp đỡ can thiệp của Liên Hiệp Quốc.
Kinh nghiệm Việt Nam, năm
1611, khi người Mãn Thanh từ Trung Nguyên tràn xuống đánh bại triều đình Nhà
Minh, đám di thần trung thành với nhà Minh không chiụ khuất phục lập phong trào
Baì Mãn Phục Minh. Một số chạy xuống Hoa Nam kéo theo đám dân chúng tràn vào
các tỉnh phía bắc Việt Nam, tạo nên một vùng biên giới mất an ninh suốt hai thế
kỷ, đã khiến dân Việt vô cùng thống khổ vì sự hoành hành của đám giặc “Tàu ô”
này.
Một số di thần nhà Minh
khác theo thủ lãnh của họ dùng đường biển đi xa hơn về phương nam. Đợt người
Hoa di dân này là dấu mốc quan trọng trong lịch sử khẩn hoang của Đồng Bằng
Sông Cửu Long.
Sử liệu ghi năm 1679 Dương
Ngạn Địch, nguyên Tổng Binh các quận Quảng Tây và Trần Thắng Tài, Tổng Binh các
quận Quảng Đông đem đội binh Trường Phát (tóc dài đuôi sam – để phân biệt với
người Mãn Thanh) và gia quyến hơn ba ngàn người trên 50 chiến thuyền tới cửa biển
Thuận An bệ kiến Chúa Nguyễn xin tỵ nạn nước Nam và được chúa Hiền Nguyễn Phúc
Tần chấp thuận cho đi về phương nam khẩn hoang lập ấp. Có điều mà chuá Hiền
không hề biết là không phải toàn binh đoàn Trường Phát đều có ý thần phục triều
đình Phú Xuân – trong đó phải kể tên phó tướng Huỳnh Tấn.
Họ chia làm hai toán.
Dương Ngạn Địch cùng với Huỳnh Tấn đem binh thuyền từ Quảng Đông vào cửa Soài Rạp,
cửa Đại, cửa Tiểu tới đồn trú tại vùng Mỹ Tho, Định Tường. Trần Thắng Tài cùng
với Trần An Bình đem binh tới đóng ở Biên Hòa, Gia Định. Họ cùng với đán lưu
dân Việt phá rừng vỡ đất đào kinh cất phố mở mang đường xá, họ lập gia đình với
người Việt và Khơmer sinh con đẻ cái và đa số chọn định cư lâu dài nơi đây.
Họ là những người Minh
Hương – tên gọi những người Hoa còn trung thành vơí nhà Minh bên Trung Quốc ,
lánh nạn nhà Thanh tới Việt Nam. Họ là những người tỵ nạn chánh trị, xin nhận
Việt Nam làm quê hương thứ hai và họ đã đóng góp nhiều công sức cùng với những
người lưu dân Việt khai phá miền Nam từ thời Nguyễn Sơ. Họ cũng lôi cuốn người
Hoa khác từ Mã Lai, Singapore tới sinh sống lập nghiệp.
Riêng viên tướng phó Huỳnh
Tấn kéo theo được nhiều binh lính, trên bước đường khẩ hoang đã tìm được vùng đất
mới phì nhiêu còn hoang vu hai bên bờ sông Mekong, Tấn có ý ly khai triều đình
nhà Nguyễn để lập một vương quốc riêng. Chủ tướng Dương Ngạn Địch trung thành với
chúa Nguyễn tỏ ra không đồng ý đã bị Tấn và đám lính ly khai giết. Chúa Nguyễn
đã phải cùng với Trần Thắng Tài đem quân đánh dẹp, giao tranh rất khốc liệt cuối
cùng phải dừng mưu mới bắt và giết được Huỳnh Tấn, Miền Đông mới lại tạm yên.
Nhưng vẫn có số tàn quân thoát được sang Chân Lạp sống quanh vùng Biển Hồ tiếp
tục chống lại Việt Nam lại được hỗ trợ bở quân Khơmer nhất là quân Xiêm La khiến cho cuộc bình định
phải kéo dài nhiều năm cho tới khi quân chúa Nguyễn chiếm được Nam Vang.
Cũng phải kể một cuộc nổi
loạn khác của ngưới Hoa nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long do Lý Văn Quang người Phước
Kiến thấy phòng thủ đất Đồng Nai suy yếu nên đã cầm đầu một nhóm người Hoa chiếm
Cù Lao Phố (1747), chúa Nguyễn lại phải sai đô đốc Phiên Trấn Dinh Trần Đại Định
là con Trần Thắng Tài đưa quân đi đánh dẹp. Lý Văn Quang bị bắt và chỉ bị trục
xuất về Trung Hoa.
Và xuống xa hơn nữa, năm
1671 một nhóm thứ ba do Mạc Kính Cửu lãnh đạo cũng sau cuộc nổi dậy thất bại chống
nhà Thanh, đã đem theo cả gia đình và đám binh sĩ hơn 400 người dùng chiến thuyền
vượt biển xuống tới vịnh Xiêm La đổ bộ lên Mang Khảm, một vùng đất còn hoang vu
của Chân Lạp.
Mạc Cửu tới Mang Khảm tuy ở
caí tuổi chưa đầy 30 nhưng là một tay hảo hán, có tài lãnh đạo, có óc chức cùng
lúc cho phá rừng vỡ đất canh tác, còn mở
mang buôn bán, thu phục được những tay phiêâu lưu giang hồ kể cả đám hải tặc về
dưới trướng lập sòng bài lấy xâu mở các tiệm hút để kinh tài. Vẫn không đủ nhân
lực, Mạc Cửu phải tiếp tục chiêu mộ thêm người Hoa, lưu dân người Việt và người
Khơmer từ khắp nơi tới, và chỉ trong một thời gian không lâu họ Mạc đã biến một
vùng hoang vu sình lầy thành một khu trù phú – lập ra 7 xã, trong đó có cả hòn
Koh Tral tức đảo Phú Quốc sau này, chọn Mang Khảm làm kinh đô, tự đặt tên là Cảng
Khẩu Quốc rất sớm nôỉ tiếng là một hải cảng thuận lợi cho tàu bè qua lại: từ
phương bắc xuống – từ Hải Nam, Phúc Kiến... từ Nam lên – Java, Nam Dương… … … … từ phiá tây qua – Ấn Độ, Mã Lai.
Hà Tiên như một tiểu vương
quốc tự trị không phụ thuộc vào Chân Lạp hay Đại Việt.
Cũng vì tính cách tự trị
đó mà sứ thần Trung Hoa và cả các nhà viết sử phương Tây sau này đã có lúc xem
Hà Tiên như một “tiểu vương quốc của người Hoa trong vùng biển Trung Nam Hải”.
Nhưng chính Mạc Thiân Tích – con Mạc Cửu – trong bài tựa tập Hà Tiên Thập Vịnh
được Phan Huy Chú chép trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí – được coi như bộ
bách khoa toàn thư đầu tiên của Việt Nam
triều Nguyễn đã ghi rõ: “Trấn Hà Tiên nước An Nam, xưa là đất hoang, từ tiên
quân khai phá đến nay đã 30 năm, mà dân mới được ở yên, biết việc trồng trọt.”
Từ thế kỷ 17, trong bối cảnh
cuộc Nam tiến, đám lưu dân Việt tuy không ồ ạt nhưng từng nhóm ngoài ngã đường
bộ đi về phương Nam, họ còn dùng thuyền theo ven biển tiếp tục xuống xa hơn tới
vịnh Xiêm La, có lẽ họ cũng đã đặt chân lên vùng đất Mang Khảm nhưng gặp cảnh
sinh hoạt bất kham nên họ lại tiếp tục ra đi. Phải đợi tới khi Mạc Cửu đem tài
lực vật lực tới khai khẩn canh tác, mở mang thương mại thì Mang Khảm mới thực sự
phát triển và trở thành một “đặc khu kinh tế” sầm uất, một trong những thị trấn
đô hội ra đời sớm nhất nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long trước cả Cần Thơ, Bạc Liêu,
Mỹ Tho ..
Sách Mạc Thị Gia Phả có
chép: “Từ khi ra ở đất Mang Khảm thì Mạc Cửu hết sức lo mở mang cõi data mới
cho một nơi hoang vu vắng vẻ mà nên được một nơi chợ búa đông đảo. Một mặt thì
Cửu lo khai khẩn đồn điền cho dân cày cấy và mở mang hải cảng để đón các tàu
buôn ở các biển; một mặt thì lo xây đắp đồn luỹ, tập luyện quân lính để bảo hộ
cuộc trị an và mưu đồ cuộc dộc lập. Cưủ thường lấy lòng nhân nghĩa mà xử đãi
nên người các nơi theo về rất nhiêù. Mang Khảm chẳng bao lâu mà thành một nơi cảng
sầm uất.”
Mang Khảm như một
Singapore của thế kỷ 18, không phải chỉ nổi danh trong vùng Đông Nam Á, địa
danh Hà Tiên còn vang tới tận Châu Âu, được nhắc tới trong bài tham luận của
Pierre Poivre trước Hàn Lâm Viện Pháp 1768: “Hà Tiên đã mở cửa đón nhận tàu
buôn mọi nước đến buôn bán. Hàng hóa buôn bán phải chịu một mức thuế rất nhỏ mà
thôi.” (Un Chinois des Mers du Sud, le Fondateur de Hà Tiên – Garpardone Emile,
Journal Asiatique, 1952).
Nhưng rồi cái ngày không
tránh được là Mang Khảm bị quân Xiêm xâm lấn tàn phá, cả gia quyến Mạc Cửu bị bắt
đem về Xiêm La cho tới khi trốn thoát được về Trũng Kè rồi họ Mạc trở lại Mang
Khảm để lo toan khôi phục.
Cũng vẫn Mạc thị gia phả
chép: “về Mang Khảm rồi, có kẻ mưu sĩ người Minh Hương tên là Tô Quân bàn rằng
– Người Cao Miên tâm tính hèn nhát nhu nhược, lại đất Mang Khảm là đầt haỉ tần tất
có ngày đối luỹ với quân Xiêm, ngộ có khuynh nguy họ không thể bảo trợ được;
trong khi những người Hoa ở phía bắc được chúa Nguyễn cho định cư đang phát triển
nhanh chóng. Thêm vào đó quân chúa Nguyễn cũng đang làm chủ Miền Tây Chân Lạp
và đối đầu với quân Xiêm La . . . Vậy chi bằng thần phục về với Nam Triều để
cho có chỗ nương tựa vững vàng là hay hơn”
Thấy lời bàn có lý, Mạc Cưủ
đích thân đến Phú Xuân dâng biểu xin đem đất bảy xã của mình khai phá quy phục
Nam Triều. Chúa Nguyễn ưng cho và đổi tên đất Mang Khảm lại là trấn Hà Tiên,
phong cho Mạc Cửu chức tổng binh về giữ trấn Hà Tiên, laị bang tặng ấn triện
mãng mão và cho người đưa về trọng hậu.
Lãnh thổ Đại Nam không những
được mở rộng mà trấn Hà Tiên nghiễm nhiên trở thành tiền đồn chiến lược ngăn bước
xâm lấn của quân Xiêm La.
Mạc Cửu mất năm 80 tuổi
(1655 – 1735) con là Mạc Thiên Tứ – sau đổi tên là Mạc Thiên Tích kế nghiệp
cha. Ngoài kiến thức uyên bác, Mạc Thiên Tích còn là vị tướng tài, ngoại giao
giỏi. Ông tiếp tục mở rộng đất Mang Khảm, lập thêm 4 huyện: Long Xuyên (miệt Cà
Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (miệt Cần Thơ) và Trấn Di (miệt bắc Bạc
Liêu),và ông cũng đã từng cầm quân sang tấn công Xiêm La, bảo hộ cả cùng phía
nam Chân Lạp.
. . . . Năm Giáp Tí, 1774,
chúa Nguyễn Phúc Khoát chia nước làm 12 dinh, duy có Hà Tiên vẫn để là trấn, Mạc
Thiên Tích vẫn giữ chức đô đốc cai trị như trước. Theo một nghĩa nào đó thì Hà
Tiên như một khu tự trị của họ Mạc, có thành luỹ quân đội, có cả đồng tiền
riêng – chỉ phải mỗi ba năm triều cống chúa Nguyễn theo phiên lễ chư hầu.
Cha con nhà họ Mạc tuy đã
xin làm dân Việt làm quan cho nước Nam nhưng vẫn một mình trấn đất Hà Tiên, vẫn
có cái tư cách bá vương nên họ Mạc lúc nào cũng nuôi mộng lớn chờ thời cơ vùng
vẫy. Mạc Thiên Tích trong bài “Lư Khuê Nhàn Điếu” đã tỏ rõ cái chí khí của mình
qua 2 câu thơ:
Hải thượng tà đầu thời độc
tiếu
Di dân thiên ngoại nhất
ngư ông
Trên biển riêng cười cơn xế
bóng
Đem dân ngoài cõi một ngư
ông
NHỮNG TẤM BIA CÀN LONG VÀ
PHẬT THẦY TÂY AN
Với chí lớn ấy thì họ Mạc
đâu có dễ dàng mà chịu bóø thân lâu dài với triều đình Huế và đâu có muốn cho
Việt Nam có minh quân thánh chúa ra đời nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long mà vùng Thất
Sơn “với sườn gò khởi phục, cây tốt, suối trong” với con mắt địa lý nhà họ Mạc
đích thị là “Hoa địa của Việt Nam” với âm dương tương hội sẽ là nơi “địa linh
sinh thân kiệt”
Theo nhà biên khảo Nguyễn
Văn Hầu thì khi đệ tử của Phật Thầy phát hiện những tấm bia Càn Long ở Bài Bài
quận Tịnh Biên _ Châu Đốc chôn vào năm Càn Long nhà Thanh niên hiệu thứ 57 –
1729 là thời gian gia đình họ Mạc còn trọng nhậm tại Hà Tiên thì chưa ai hiểu tại
sao.
Chỉ riêng Phật Thầy là bậc
cao minh “thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý, trung quán nhân sự” lại có viễn
kiến Thầy tiên tri cho rằng Thất Sơn – hiểu rộng hơn là vùng đồng bằng Sông Cửu
Long là “hoa địa của Việt Nam” nơi tích tụ nhiều địa huyệt hiển linh chỉ chờ
ngày khai mở để tới thời “Thượng ngươn – với phẳng lặng bốn bề thái vũ, mở hội
vĩnh thanh”.
Do đó các thầy địa lý họ Mạc
dựng lên những tấm bia Càn Long trấn ếm nhiều nơi khiến cho anh linh vượng khí
của ĐBSCL không còn nữa tinh hoa sẽ suy kiệt, “đất sẽ khô cằn” không thể nào
sinh ra thánh nhân anh hùng được nữa và rồi sẽ trở lại bị lệ thuộc vàoTrung
Hoa.
Bởi vậy mà nơi nào có bia
Càn Long trấn ếm nơi đó có sự hóa giải của phật thầy. Đức Cố Quản Trần Văn Thành là người được giao trọng
trách đi cắm 4 cây thẻ quanh vùng Thất Sơn. Cho mãi tới bây giờ, nơi ĐBSCL trên
gò đất cuối ngọn rạch Thạnh Mỹ, Vĩnh Thạnh Trung, tỉnh An Giang vẫn còn “Dinh
Ông Thẻ” được dân chúng thờ phượng. Và cũng do đó mới còn một nền “Văn Minh Miệt
Vườn” hưng vượng tới ngày nay.
Tương truyền rằng từ thời
rất xa xưa cò thầy địa lý Tàu tên là Cao Biền biết được nơi lưu vực sông Hồng
có rồng thiêng hỗ trợ cho dân tộc Việt hưng vượng trên bước đường đi về phương
nam nên Biền đã tìm cách hãm hại nhưng rồng thiêng đã thoát được ra ngoài biển
Đông ẩn mình nơi Vịnh Hạ Long để rồi sau
đó laị theo bước đường Nam Tiến của dân Việt.
Riêng ở phương nam với lịch
sử khai phá chưa đầy 400 năm mà như đã
có một kho tàng cổ tìch với bao nhiêu chuyện kỳ bí bao nhiêu chuyện huyền thoại
và truyền thuyết – tin hay không tin nhưng vẫn rút ra từ đó những ý nghĩa ẩn dụ
.
Như truyền thuyết nói về Rắn
Thần Naga theo Cao chính là biểu tượng những Khu Rừng Mưa – Rainforest như những tấm bọt biển khổng lồ, bấy lâu vẫn
ngậm cả khối nước sông Mekong trong mùa mưa lũ và phun ra trong muà khô khiến
nông dân không bị lụt và quanh năm bốn muà luôn có nước gieo trồng.
Thế còn những tấm bia Càn
Long nơi ĐBSCL thì sao? Phải chăng đó là biểu trưng sự khống chế của người Hoa
trên một địa bàn được coi là trọng địa của cả nước, trong khi những cây thẻ của
phật thầy chíng là khơi động ý thức hưng chấn giành lại quyền tự chủ bấy lâu đã
và đang bị đánh mất.
Phật Thầy đã khuất cách
đây hơn 1 thế kỷ với sự nghiệp ảnh hưởng lớn lao như vậy nhưng mộ Thầy thì chỉ
đơn giản là một vuông cỏ xanh trên một triền đá khuất nẻo.
Không còn Phật Thầy nhưng
nay vẫn còn các thầy địa lý ở Thiên An Môn biết Cửu Long là con sông thiêng,
ĐBSCL là trọng địa, là mạch sống của Việt Nam – nơi mà “Nước đã trở thành đắt
giá và càng đắt giá hơn trong tương lai và sẽ trở thành Vàng Xanh của Thế Kỷ
21”.
Trong khi Việt Nam không
có khả năng tự vệ, thì với 8 con đập bậc thềm nơi thượng nguồn sông Mekong,
Trung Quốc đã và đang lạnh lùng tranh đoạt nguồn nước dể rồi con sông thiêng sẽ
bị tát cạn – cạn kiệt luôn mạch sống của vùng châu thổ.
Tuy nay không có những tấm
thẻ cắm của Phật Thầy trên Vân Nam nhưng vẫn có Những đứa con Cưủ Long – Nhóm Bạn
Cửu Long, theo gương Phật Thầy không ngừng thao thức và tìm mọi cách ngăn chặn
cái ngày không còn lũ đổ về, không còn phù sa, Cửu Long sẽ cạn dòng, đất sẽ khô
cằn không còn vựa lúa nuôi cả nước, người cũng sẽ kiệt và cả đất nước Việt Nam
sẽ rơi vào trật tự nước Trung Hoa – Pax Sinica.
ĐẾN HÀ TIÊN, TÌM VỀ THỜI
GIAN ĐÃ MẤT
Hà Tiên không chỉ đẹp mà
còn giàu chất lịch sử. Đến thăm Hà Tiên không thể không nghe noí tới Hà Tiên Thập
Vịnh của Mạc Thiên Tích với 10 bài thơ nói về Hà Tiên viết bằng đủ kiểu chữ
“chân, trảo, triện, lệ”với cả tranh minh họa. Chỉ tên mỗi bài thơ không thôi đã
chan chứa cả tứ thơ : Bình sơn màu biếc – Bình sơn điệp thúy, Chuông sớm chùa
núi – Tiêu tự hiểu chung, Hang núi nuốt mây – thạch động thôn vân, Cánh cò châu
nham – Châu nham lạc lộ, Hòn kim chắn sóng – Kim dữ lan đào, Đông hồ trăng in –
Đông hồ ấn nguyệt, Phố nam sóng lặng – Nam phố trừng ba, Nhàn câu sông lư – Lư
khê nhàn điếu, Trống canh giang thành – Giang thành dạ cổ, Thôn xóm lộc trĩ – Lộc
trĩ thôn cư.
Tập thơ được khách Thăng
Long rất ưa chuộng và đất Hà Tiên từ đó được nhắc tới như một địa danh văn học.
Đông Hồ và Mộng Tuyết được coi như thế hệ hậu duệ cuả truyền thống văn học Hà
Tiên sau này.
Cách Rạch Giá 90 km về
phía bắc, Hà Tiên như là mũi đất của tĩnh Kiên Giang, giáp ranh với Cam Bốt, với
cấu tạo địa chất là những dãy núi đá vôi chạy dài ra tới biển tạo nên nhiều cảnh
trí ngoạn mục với những hang động, những hòn (hòn Phụ Tử, hòn Chông . . .) những
đaỏ (Thổ Châu, Phú Quốc …..).
Nhà máy xi măng Hà Tiên hiện
đại sau này được xây dựng trên vùng đất đá vôi này.
Như một đường chỉ thẳng,
con Kinh Vĩnh Tế chảy dài từ Châu Đốc đổ vào sông Giang Thành đem ngọn nước ngọt
từ sông hậu tưới mát cho Hà Tiên.
Từ bên trong thị trấn trên
con đường Phương Thành nổi tiếng với 2 ngôi chùa cổ. Chuà Tam Bảo có lịch sử
cùng thời với đất Hà Tiên, có tượng phật Di Đà đúc từ thời Mạc Cưủ khi ông đón
mẹ từ Trung Quốc sang về cư ngụ tại chùa này. Riêng chùa Phù Dung được biết tới
nhiều hơn với tên Phù Cừ Am Tự thì do Mạc Thiên Tích xây cho nàng Aí Cơ Phù Cừ
– với một thiên tình sử lãng mạn vẫn còn được truyền tụng tới bây giờ. Phù Dung
hay Phù Cừ là tên một loài hoa sen trắng quý và toả ngát hương thơm.
Năm 1730, có một người
khách phương xa tên Nguyễn Nghị lánh cảnh giặc dã bên Lào đã dẫn hai con một
trai một gái tới đất Hà Tiên. Là người văn học quảng bác, khách được Mạc Cửu
phong cho làm gia sư dạy dỗ đứa con trai là Mạc Thiên Tứ. Để con gái ông tên
Phù Cừ cũng được theo học ông cho con ăn bận như con trai. Khi Mạc Cửu mất, Mạc
Thiên Tứ nối nghiệp cha trấn đất Hà Tiên. Mạc Thiên Tích ngoài tài an bang tế
thế còn là khách tao mặc văn chương có tài thơ phú, lập Tao Đàn Chiêu Anh Các
làm nơi quy tụ các văn nhân tới ngâm vịnh, trong số đó có cả Nguyễn Cư Trinh
(người dâng kế tàm thực lên chúa Nguyễn trong cuộc Nam Tiến) từ Gia Định xuống,
là một trong những bạn thơ cuả Mạc Thiên Tích..
Riêng Phù Cừ lúc đo ùvẫn
giả trai, không những giỏi văn thơ mà còn có nét đẹp thanh tú nên Mạc Thiên
Tích rất ư là tương đắc. Khi khám phá ra Phù Cừ là gái thì cả một mối tình thơ
mộng diễn ra giữa đôi trai tài gái sắc. Mạc Thiên Tích sau đó cưới nàng làm thiếp.
Bị vợ chánh ghen mưu nhốt Phù Cừ vào lu nước mưa úp lại cho chết nhưng may gặp
lúc trời mưa Mạc Thiên Tích kịp mở nắp cứu sống nàng. Chán cảnh đời phù du, Phù
Cừ xin chồng cho được đi tu trong ngôi chùa này. Tháp chùa được xây để sau này
vẫn có thể vọng thấy từ mộ chí Mạc Thiên Tích kế bên mộ cha trên Núi Lăng.
“Nàng Âui Cơ trong chậu
úp”(1961) là truyện ngắn nổi tiếng của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội lấy cảm
hứng từ thiên tình sử đầy chất lãng mạng này.
Đi về hướng Bắc 3km tới Thạch
Động, đó là một khối đá cao tới 90m có hang rộng có chùa cổ, có đường xuống đất
có cửalên trời, có ánh mặt trời chiếu sáng và tiếng gió thổi cuộn vào trong động
như tiếng sáo nhạc vi vu nơi mà Mạc Thiên Tích đã làm bài thơ Thạch Động Nuốt
Mây.
Giữa cảnh thơ mộng ấy
khách tham quan bỗng phải khựng lại khi đứng trước tấm Bia Căm Thù – mà Cao nghĩ
rằng nên gọi là Bia Mộ Thương Tiếc, ghi lại cuộc thảm sát 130 thường dân Việt của
quân Khmer Đỏ vào tháng 3 năm 1978. Đây không phải trường hợp riêng lẻ. Không
xa, nơi đầu mút con Kinh Vĩnh Tế về phía bắc Châu Đốc, giữa Mùa Thù Hận ấy khoảng
giữa hai chùa Phi Lai và Tam Bảo là một Cánh Đồng Chết nơi làng Ba Chúc; quân
Khmer đỏ hung dữ như một đoàn âm binh trang bị vũ khí tới răng, sau khi vượt
qua biên giới xông vàùo các nhà các chùa các hang nơi có người Việt ẩn nấp bắt
ra tàn sát, tổng cộng 3157 người phần lớn là người già, đàn bà và trẻ em với đủ
kiểu giết chóc. Và cũng khoảng thời gian đo ùcư
dân đaỏ Thổ Chu phiá Tây nam đảo Phú Quốc cũng bị quân Pol Pot tàn sát,
trong số nạn nhân có người cháu ruột của ông Khắc cũng là bạn thân thiết của
Cao thời sinh viên, lúc đó đang là một sư nữ.
Chỉ nói tới âm binh - đội
quân Pol Pot - mà không nhắc tới phù thủy theo ông Khắc là một thiếu sót. Cao
hiểu rằng ông muốn nói tới người điều khiển từ xa – remote control từ Trung Quốc.
Đường chỉ đỏ ranh giới giữa
Việt Nam và Cam Bốt hơn ba thế kỷ đã luôn luôn bị nhuốm máu – máu của những người
dân hiền lành vô tội, nạn nhân của mối hận lịch sử.
Một thóang rùng mình trong
cái lạnh của hang động, cả lẫn khuất đâu đây mùi tử khí – Cao ngửa mặt nhìn lên
trời cao vẫn cứ thăm thẳm một màu xanh như ngọc thạch với thản nhiên trôi đi những
đám mây trắng ngà. Phải chăng những tấn thảm kịch do con người gây ra ở đâu và
bao giờ cũng là quá nhỏ đến vô nghĩa để thiên nhiên cứ đẹp một cách vô tình.
Từ Thạch Động có thể ngắm cảnh nuí đồi trùng điệp
trải dài sang bên kia biên giới. Nơi có núi Châu Nham cũng với nhiều hang động
– có động Thạch Sanh với chuyện cổ tích Khmer Thạch Sanh chém đầu trăn, với cây
đàn thạch nhũ, gợi tứ cho bài Cánh Cò Sa Châu Nham.
Đông Hồ là cửa sông Giang
Thành, bên phải có núi Ngũ Hành, bên trái là núi Tô Châu. Cảnh đẹp thanh thoát
nhưng phải tới đây vào đêm trăng rằm để thấy cảnh Trăng In Mặt Nước cũng của Mạc
Thiên Tích.
Tới mũi Nai cách Hà Tiên 4
km, với bãi cát trắng với biển thật xanh và những con sóng lành. Đây chính là cảnh
vịnh trong bà thơ Cảnh Thôn Lộc Trĩ.
Nam Phố cách Hà Tiên 10 km
hướng đông nam trên đường đi Rạch Giá, có đảo núi đẹp bãi tắm quanh năm im
sóng. Là cảnh bài thơ Nam Phố Sóng Lặng.
Đến thăm Hà Tiên rồi khách
tham quan không thể không tâm đắc với thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác khi viết về
Hà Tiên quê hương mình: “ở đó kỳ thú thay, có một ít hang sâu động hiểm của Lạng
Sơn, có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có núi đá vôi của Ninh
Bình, một ít thạch thất sơ môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương
Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hóa. Có một ít Đồ
Sơn CưÛa Tùng, có một ít Nha Trang Long Hải.”
Nhưng cũng để rồi sau khi
rời đất Hà Tiên, một hòn non bộ bên Đại Vực
- Grand Canyon, để thấy một Hà Tiên hiện tại đã nhạt nhòa không sao đuổi
kịp quá khứ.
NƠI PARIS KHÔNG CÓ MÙA
ĐÔNG
Ngay sau Hoà Ước Giáp Tuất
– 1872 nhượng đứt 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp, người Pháp tích cực đẩy mạnh việc
khai thác thuộc địa qua cộng động người Hoa được đánh giá cao qua đức tính cần
cù chịu khó chữ tín và cả khiếu làm ăn buôn bán. Người Pháp cho mở tại Sài Gòn
một văn phòng di dân có tên là “Sở Tân Đáo” chuyên lo thủ tục nhập cảnh cho các
Hoa Kiều muốn vào Việt Nam, và Miền Nam vẫn là vùng đất hấp dẫn nhất. Họ là những
di dân kinh tế, những kẻ cơ hôị, tới từng đợt liên tục từ thế kỷ 19 đến giữa thế
kỷ 20. dù tới trễ họ vẫn dễ dàng khởi đầu
sống mới bằng cách tìm tới những đồng Bang Hội đã lập nghiệp trước và được họ tận
tình giúp đỡ. Tới trước hoặc sau, người Hoa nói chung rất tương trợ đòan kết.
Người Hoa ở Việt Nam ngay
cả sống nơi ĐBSCL đất đai phì nhiêu nhưng ít ai chọn nghề làm ruộng vất vả, kể
cả giàu tiền họ cũng không ham làm điền chu ûđể phải đối đầu với đám tá điền
nghèo quanh năm lam lũ chỉ mang tiếng bóc lột. Họ đã khôn ngoan chọn nghề buôn
bán ít cực nhọc mà lại hưởng lợi nhiều, nhỏ thì từ những cửa hàng chap phô kiêm
tiệm thuốc bắc mọc lên – nơi nào có khói bếp, nghĩa là khắp hang cùng ngõ
ngách, lớn hơn nữa là lập nhà máy xay lúa cùng với các trạm thu mua lúa gạo
trái cây và liên kết với nhau thông qua các Bang Hội đi tới độc quyền chi phối
toàn bộ nền kinh tế của vùng Đồng Bằng Châu Thổ.
Với thời gian, thế lực người
Hoa ở Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Tới giữa thế kỷ 19 (1841) một đại bang được
thành lập ở Sài Gòn lấy tên là Hoa Phủ Công Sứ, gồm các Bang người Triều Châu,
Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam (riêng người Minh Hương không được kể là người
Hoa thực sự). Đại bang này không những là cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp
nội bộ giữa những người Hoa với nhau mà còn có quyền hạn rất lớn về chính trị
và kinh tế, quyền cấp thẻ cư trú, quyền ấn định giá gạo trên thị trường.
Trong suốt thời Pháp thuộc
(1884 – 1945), vì quyền lợi khai thác và cả lý do an ninh thuộc địa, lại thêm
áp lực từ nước lớn Trung Quốc, cộng đồng người Hoa ở Việt Nam được hưởng nhiều
quy chế ưu đãi nhất: hoa kiều đến từ Singapore được lập bang riêng – Clan
Singapore, Hoa kiều mang quốc tịch Anh có câu lạc bộ riêng, Chợ Lớn có riêng Hội
Đồng Quảng Hạt như một chánh phủ trong chánh phủ với quyền quản lý kiều dân, hối
đoái, định giá lúa gạo và mức xuất nhập cảng ... đổi lại Trung Hoa cho Pháp quyền
truy lùng và dẫn độ những nhà cách mạng Việt Nam đang hoạt động chống Pháp tại
Hoa Lục.
Chợ Lớn hay Đại Thị tên do
Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đặt, ban đầu thưa thớt – thời Francis Garnier 24 tuổi
còn làm Đô Trưởng trước khi cùng với Doudart de Lagrée lập đoàn thám hiểm Pháp
ngược dòng sông Mekong (1866 – 1868) để tìm một thuỷ lộ giao thông với Trung
Hoa.
Sau đó với thời gian Chợ Lớn trở thành nơi thị tứ đông người Hoa nhất;
là trung tâm thương nghiệp và công nghiệp cung cấp hầu như toàn bộ nhu cầu dân
chúng miền Nam; họ hầu như có độc quyền tín dụng đối với giới nông dân người Việt.
Nơi ĐBSCL ngay từ đầu người
Hoa sống tập trung thành từng cụm ở các thị trấn xen kẻ với người Việt và người
Khmer. Đông nhất vẫn là hai nhóm người Tiều và người Quảng. Do nhu cầu giao
thông, những người Hoa này nói được cả tiếng Việt và tiếng Khmer.
Họ giữ moiá quan hệ chặt
chẽ với người Hoa ở Chợ Lớn rất sớm – qua con kinh Tàu Hủ từ 1819 đã là đường
thủy vận huyết mạch nối liền Chợ Lớn với toàn mạng lưới sông rạch của ĐBSCL.
Người Hoa chỉ chiếm khoảng
2% toàn dân số Việt Nam – qua khả năng doanh thương là ưu điểm của họ, nhưng
còn phải kể tới những thủ đoạn gian thương bất chính qua đầu cơ tích trữ, phá
giá thị trường, tham nhũng hủ hóa mọi chế độ cầm quykể cả dưới chế độ Cộng Sản,
họ cấu kết với những tay tài phiệt quốc tế Đông Nam Á đi tới nắm độc quyền về kinh tế – khống chế toàn mạng lưới
thong nghiệp, từ buôn sỉ bán lẻ nông sản tới sản phẩm công nghiệp, sang tời các
dịch vụ tài chánh và chuyên chở. Đề Ngạn – tên gọi Chợ Lớn – của người Trung
Hoa nghiễm nhiên trở thành một khâu quan trọng trên trục kinh tế Đài Loan, Hồng
Kông, Singapore mà theo thuật ngữ kinh tế bây giờ gọi đó là Khối kinh tế Đại
Hán – CEA (Chinese Economic Area).
LỬA CÁCH MẠNG TÂN HỢI TỪ
NAM KỲ
Nhà cách mạng Trung Hoa trong
thời kỳ bôn ba, đã từng ba lần tới Việt Nam. Qua các tổ chức Trung Hưng Hội như
những chi bộ hải ngoại của Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Tôn Văn đã thành công trong
công cuộc vận động các cộng đồng người Hoa ở Nam Kỳ góp công góp của cho cuộc vận
động Cách Mạng Dân Quyền đang diễn ra ở Hoa Lục.
Trong một cuộc họp với các
đồng hương ở Chợ Lớn, Tôn Văn đưa ra nhận định tình hình đã chin muồi cho cuộc
lật đổ triêù đình Mãn Thanh và ngay sau đó ông đã nhận được sự đóng góp hết sức
lớn lao của mọi tầng lớp người Hoa. Đi tới đâu ông cũng tìm cách tiếp xúc với
các Bang Hội, hóa giải
sự thăng hoa môi trường từ
“ Toàn Trị” san bằng những bất đồng giữa họ và kích động lòng tự hào Hán Tộc để
họ luôn hướng về đất mẹ Trung Quốc vốn tự ngàn xưa đã là trung tâm của thiên hạ,
“đồng thời khuyên nhủ họ vẫn mãi là người Hoa không thể bị đồng hóa với người bản
xư.ù”
Sau cuộc cách mạng Tân Hợi
10-10-1911, Tôn Văn được suy tôn như quốc phụ của cả nước Trung Hoa. Đúng như ước
vọng của ông, cộng đồng người Hoa ở hải ngoại cho dù là ở đâu và bao giờ cũng
luôn là bộ phận gắn bó với nước mẹ – nói theo ngôn từ của phóng viên tuần báo
Viễn Đông Kinh Tế thì họ đã và đang là “những cánh tay vươn dài của trật tự
Trung Hoa – Pax Sinica” cả lục địa lẫn hải đảo.
Dưới thời đô hộ Anh, Kyaw
Nyein đất nước Miến Điện như một xã hội hình tháp – Social Pyramid với dưới đáy
là bao nhiêu triệu người Miến Điện nghèo khổ ngu dốt và bị bóc lột, và trên dỉnh
là một thiểu số người ngoại quốc Anh, Hoa, Aán . .
Riêng Việt Nam, cho dù đã
bước qua thế kỷ 21, trải qua bao nhiêu cuộc Chiến Tranh Cách Mạng, thì vẫn mãi
là cấu trúc xã hội hình tháp dưới đáy là những người dân bản xứ nghèo khổ, ít học
bị khai thác thác làm thuê làm mướn ăn nhờ ở đậu trên chính quê hương mình,
trên chóp đỉnh thường trực vẫn là những khách trú thiểu số người Hoa, chỉ có đổi
thay nhưng luôn gắn bó hữu cơ với họ là giai cấp thống trị, sau những ông Tây
Thuộc Điạ, những ông Tướng Cộng Hoa, thì nay đến những ông Tư Bản Đỏ vẫn rất được
tin cậy qua cả những hợp đồng dài hạn tới 50 năm trong những dịch vụ làm ăn bền
vững. Giai thoại Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói chuyện với ký giả Milton
Osborne khi tới thăm Hà Nội vào đầu thập niên 80 về ý định nhà nước sẽ phá vỡ độc
quyền thong mại của người Hoa ở Miền Nam nhưng sự thực tế 20 năm sau thì hoàn
toàn ngược lại, người Hoa được chính người Cộng Sản Việt Nam tiếp thêm sức mạnh
và ông Thạch thì nay cũng đã chết.
Bằng đôi mắt chim để thấy suốt dọc hai
bên con sông Mekong hùng vĩ dài hơn 4,350 km, là cả một quần thể người Hoa phồn
vinh và sung mãn – nếu ví von, nói theo ngôn từ y học của bác sĩ Duy, thì đó là
những tảng mỡ có thể làm nghẽn mạch mà phẫu thuật – surgical resection thì bao
giờ cũng đau đớn, nhưng qua sự hội nhập và chuyển hóa lành mạnh đó thì lại là
những hạt mỡ tốt HD thông mạch – không bởi viên thuốc tan mỡ kỳ diệu nào mà do
bởi Dân Chủ.
(trích CỬU LONG CẠN
DÒNG,BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG,sách của BS
Ngô Thế Vinh)