Ừ thôi, cỏ
mọc
Tạp văn
Nguyễn Ngọc Tư
Có lẽ cuộc đời
đã nói với tôi về sự tùy nghi, lâu lắm rồi, chỉ là tôi không nhận biết.
Mấy hôm trước
mua được cái đĩa hát của nghệ sỹ Tấn Tài, có bài Bông Ô Môi mà tôi mê hồi
nhỏ. Từ tiệm băng đĩa, tôi cắm đầu chạy về nhà, vì thấy ham quá. Và khi
người nghệ sỹ cất tiếng “bông ô môi, gió cuốn rụng đầy trên sông,
nhìn mây trời mênh mông…” bỗng tôi nổi quạu. Trời ơi, sao ta lại nghe
bài vọng cổ này ở đây, trong cái thành phố chật chội, bức bối này, trong
mớ âm thanh hổn độn và nghẹt cứng những xe những tàu những người réo gọi,
mắng mỏ nhau.
Vọng cổ, phải
nghe trên những dòng sông vắng, những bờ chuối, giồng khoai, hay bên hè,
nơi có hàng lu nước lá vú sữa rụng đầy… mới đúng điệu. Hồi nhỏ, nhà nghèo,
tôi vẫn thường ngồi chỗ mé mương, cạnh mấy cây muồng, cây bình bát, nghe
ké cassette hàng xóm. Ở đó, tôi khóc mò thương cô Lan lụy tình anh Điệp mà
bạc mệnh, thương nàng công chúa Mông Cổ yêu kẻ thù để nhận lấy một kết
cuộc bi thương… Ở đó, tôi thuộc lòng từng lời từng chữ, “mười năm rồi
còn chi nữa em ơi, mình xa nhau mỗi kẻ một phương buồn. Tôi giang hồ đã
mỏi gót phong sương, em ở lại đây với bốn bề khói lửa…”.
Bài ca cũ còn
nguyên, nhưng cái không gian lặng ngắt chỉ phảng phất tiếng ong bầu, tiếng
tay chuối khô xao xác… không còn nữa. Tôi bây giờ đã chợ, chán ngắt. Muốn
quăng cái đĩa đi nhưng lại tiếc… tiền, dùng dằng cho vào máy hát, tự dặn
mình, thôi kệ. Bông Ô Môi đi hết nửa bài, và sự kiên nhẫn đã được đền đáp,
tôi cảm giác những âm thanh thành phố đã chìm dưới một đáy sâu nào, chỉ
còn tiếng chuông chùa lẫn trong mái dầm khua nước, và người đàn ông trở về
sau chiến tranh, mái đầu điểm bạc đắng lòng nhìn bông ô môi rụng váng đỏ
cả mặt sông.
Bài ly biệt vẫn
hay, vẫn ngọt ngào, buồn bã. Tôi bắt đầu bập bẹ đánh vần hai chữ tùy nghi.
Tôi tưởng tôi đã biết rồi, nên cười ngạo những câu than thở kiểu
như, “trời ơi, ở chỗ lạ ngủ không được. Nhớ cái gối ôm…” hay “cái món ăn
của vùng ấy nuốt không vô, thứ thì lạt nhách, thứ mặn lè…”…Tôi cũng từng
gối cỏ nằm sương, ăn bốc ngủ vùi (nghĩa là món gì cũng bốc được, vùi ở đâu
cũng ngủ được), thấy cũng chịu chơi lắm.
Nhưng lâu lâu
cũng rầu, vì nhìn thấy cây gòn mọc trong sân quán nhậu, củ khoai nướng
cháy bùi ngùi bên đường, cây càng cua nhón chân mọc ké nơi rào, bầy chim
sâu chim sẻ ríu rít trên chùm dây điện rối... Và bà cụ gầy nhom với rổ đọt
bí, mớ rau lang ngồi bán ở nhà chờ xe buýt, những người buôn gánh chào
nhau bằng những thổ ngữ đặc trưng của xứ sở mình, đám trẻ đánh giày xách
thùng đồ nghề rảo trên những vỉa hè nham nhở… Họ không thuộc về nơi này,
như tôi.
Ý nghĩ đó lại
cục cựa khi tôi gặp người đàn ông ngồi thổi sáo trong cái lạnh đầu đông Hà
Nội. Tôi hỏi ông thổi bài gì mà buồn vậy, ông cười, “thổi vu vơ ấy mà,
nghĩ tới đâu thổi tới đấy”. Cảm giác như đó chỉ là nửa nụ cười. Vì ông
không có mắt. Không phải mù, mà chỗ đáng ra lấp lánh nhìn đời chỉ có mảng
da thịt trũng sâu. Ông cũng có con, trạc tuổi con tôi, nhưng mẹ nó đã đưa
nó đi rồi. Ông nói “thằng bé kháu lắm. Nhưng lâu rồi không gặp, tôi không
biết giờ nó đã bằng từng nào… Mình vầy… nên muốn gặp con cũng khó…”. Giữa
những ngập ngừng mà tôi viết lại bằng dấu ba chấm, dường như là quãng ông
nghẹn ngào, ký ức về mình đang bị xóa dần trong lòng đứa trẻ xa xôi. Dù
miệng ông vẫn cười.
Tôi mua một cây
sáo, đây là cây thứ hai mà ông bán được trong ngày. Hôm qua khi ông
lần trong bóng tối vĩnh cửu về căn nhà trọ ở một bãi sông nào đó, hàng vẫn
còn nguyên. Hai năm ngồi rao khúc nhạc buồn bã ở ven hồ Gươm, những ngày
khốn khó như thế vẫn thường lặp lại. Ông cười, “Quen rồi, nếu không bỏ
buồn qua một bên được thì phải tìm cách sống với nó”. Ông sống bằng cách
nào ? Ông hỏi tôi có mang theo áo ấm không, vài ngày nữa sẽ có gió mùa
đông bắc, trời trở rét. Ông đoán được thời tiết nhờ vào mùi của nước hồ.
Một đứa trẻ bán tranh dạo ngang qua, ông hơi nghiêng tai, nói, mẹ vừa tìm
cháu đấy, My à, cháu mãi chơi quá... Đứa trẻ nhoẻn cười, ông thấy
được nụ cười của nó, cũng như thấy được con đường về nhà, lúc cuối
ngày.
Tôi nhớ tới
người đàn ông đó, như một tấm gương về sự tùy nghi với thân phận, với nỗi
đau. Tôi học cách nếu không bỏ nhớ qua một bên thì sống chung với nó.
Chiều nay bạn học cũ ở xa về, rủ đi nhậu ở một cái quán ngoại ô, uống vài
ly, lại nghĩ vẩn vơ.
Cái hồi tôi bảy
tuổi thì có một dòng sông chảy qua xóm. Bến trước nhà ba tôi làm cái vó
cạnh bụi trâm bầu. Vó chồm ra hơn nửa sông, đêm đêm treo ngọn đèn chong dụ
dỗ tôm cá (nói cho cùng người ta cũng giống hệt vậy, lao miết về phía
nhiều ánh sáng đèn). Chòi vó lợp lá chầm đóp, chung quanh dừng bằng những
tay chuối khô cắt trong vườn. Ngày hanh nắng nằm trong chòi mát rượi, dã
dượi gió sông thốc vào, lá khô cứ xao xác suốt. Trời mưa, chòi dột tả tơi,
những tay chuối che bề nào cũng ướt.
Suốt những năm
đó, tôi coi chòi vó là nhà. Mùa chướng trở, bông tràm rụng tơi bời, có bữa
đang ngủ nghe cổ nhột ran, tưởng đâu có con sâu róm đang bò, ai dè bông
tràm nằm vắt vẻo. Con nước rằm, theo má cất vó tới khuya, đợi trăng đậu
vào lòng vó bèn cất lên, trăng chảy xuống lòng sông, nguyên vẹn, trên vó
chỉ còn đám tép rong, bầy cá lìm kìm, cá lòng tong, đôi khi gặp những con
rắn râu, khắp mình đầy rêu, nằm khờ ịt trên lưới. Có khuya xa xắc, bỗng
dưng nghe tiếng gọi Vó ơ… dằng vặc của mấy dì đi chợ sớm, thấy rõ ràng
mình leo vắt vẻo mút đầu vó, cất lên cái lưới ướt đẫm sao khuya. Sáng ra
lồm cồm bò dậy, mới hay chỉ là giấc mơ.
Và chỗ cái vó
cất những mộng mị trăng sao đó, ngay trân cái bàn rượu chiều nay. Lạ là,
tôi đã không còn cảm giác mình đi lạc, không còn ngồi thom lom trong hồi
ức.
Cái quán này mà
dẹp đi, cho trở lại khung cảnh ngày trước, tôi biết làm gì với nó, khi mà
tôi đã đủ già, để thấy rằng dòng sông đó chỉ là con rạch nhỏ xíu, và
chuyện cất lưới lên những con tép bạc tép rong cá lòng tong chẳng làm nên
cuộc mưu sinh.
Lâu lâu nhớ
chơi. Rồi phải sống với từng milimet đất dưới chân mình, như cỏ
mọc.
Nguồn: Trang Nguyễn Ngoc Tư (http://www.viet-studies.info/NNTu/)