Những Năm Tháng Khó
Quên
Tôi dựa vào trí nhớ để viết sơ lược
Địa Lý của vùng nầy
Mong qúy vị bổ túc niệm tình tha thứ
nếu có điều sơ sót.
Ghi lại và kính dâng lên Ba Má
Thương
Hoài Nhân (LVC)
Xả Vĩnh-Trung tọa lạc dưới chân Núi Cấm thuộc dãy Thất-Sơn; xả đầu tiên
của quận Tri-Tôn về phía Nam tỉnh Châu-Đốc. Thất-Sơn còn có tên gọi là Bảy Núi
gồm núi Két, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng, núi Cô Tô, núi Sập, núi Ba Thê. Vào
những năm sau nầy, ở đây thành lập nơi huấn luyện quân đội gọi là Trung Tâm
Huấn Luyện Chi Lăng. Từ Châu-Đốc Đến ngã ba xả Nhà-Bàng, rẽ phải đi về quận
Tịnh-Biên, rẽ trái về xả Vĩnh-Trung. Từ ngàn xưa, vùng đất
nầy thuộc lãnh thổ Kampuchia. Do vậy, ở đây gồm có hai sắc đân Việt-Nam và
dân bản xứ. Hầu hết người Việt-Nam sống ở nơi nầy đều nói
được tiêng Kampuchia. Người dân bản xứ sống từng khu
xóm nhỏ gọi là “xóc”. Sự đi lại trong xả bằng những con đường mòn với bề
rộng không quá hai thước. Sự mua bán qui tụ tại một nhà chợ
gồm mái lợp “tôn” và hai hàng cột. Các sạp trưng bày hang hóa để bán dọc
hai bên hàng cột, chính giữa là lối đi. Con đường xương sống của xả Vĩnh-Trung chạy từ xả Nhà-Bàng về hướng đông của nhà chợ là đường
Hàng Tỉnh 48. Các tiệm bán tạp hóa thường là những ngôi nhà vừa bán hàng vừa
là nơi trú ngụ, nằm bên trái của đường xương sống tính từ hướng Nhà-Bàng. Một số nhà dân bao quanh nhà chợ với hình chữ “U” chia cách bởi
những người bày bán trên mặt đất. Người Việt-Nam sinh
sống lâu đời ở nơi nầy hầu hết phồn thịnh nhờ giao dịch mua bán với người
Kampuchia.
Xả Vĩnh-Trung cũng là nơi chôn nhao cắt rún của tôi. Ba tôi thuật lại rằng ông nội tôi khai hoang lập nghiệp tại đây và
là một thầy dạy võ thuật cho người dân ở vùng nầy. Thời
kỳ Pháp thuộc, làng xả tôi bị bom đạn của ngọai bang, dân làng chạy tản cư khắp
nơi. Gia đình ba má tôi cũng không ngoại lệ, nhà cửa bị hủy diệt hoàn
toàn và tài sản bị tiêu tan dưới làn tên lửa đạn ấy. Do vậy, gia đình ba má tôi
tản cư nhiều nơi. Cuối cùng gia đình ba má tôi định cư tại xả
Châu-Phú, quận Châu-Đốc lúc bấy giờ. Tôi còn nhớ cũng như sau nầy ba má
tôi thuật lại, nơi cư ngụ đầu tiên tại xả Châu-Phú nằm trên bờ kinh đối diện
với đường xe lửa. Kinh nầy có hình chữ “L” được họp
thành bởi đường xe lửa và đường Núi Sam; bắt đầu từ xả
Đầu Bờ, Núi Sam chảy qua lò heo ra sông Hậu. Vào mùa nước cạn, mọi sinh hoạt
hang ngày phải qua một cây cầu bê-tông cót-sắt bị hư gãy mà các trụ cầu được
tái tạo bằng trụ gỗ tròn. Mặt sàn cầu được thay thế bằng gỗ
với bề rộng đũ cho hai người đi ngược chiều. Lan
can cầu xây đựng cũng bằng gỗ tròn. Cây cầu nầy có tên gọi là
cầu ông Quản Thành với một ngôi nhà gạch cũ kỹ. Người
dân ở đây cũng có thể đi bộ về phía hạ lưu của kinh đến một cầu gỗ nối liền
Chùa Châu Viên và đường núi Sam. Sở dĩ, người dân đi
lại qua lối nầy vì mực nước rất thấp không thể dùng xuồng được.
Hoàn
cảnh vô cùng khắc nghiệt, cuộc sống hết sức cơ cực mang đến cho gia đình ba má
tôi bằng một chiếc nhà sàn đơn sơ để tránh mùa nước lũ
dâng lên hàng năm. Người dân ở quanh đây phải chịu cảnh muỗi mồng, đĩa vắt và
sự oi ả nóng bức xông lên từ mặt nước. Tôi không thể quên được cảnh lầm than
cho dù lúc ấy tôi mớ năm tuổi:
Thời
gian tô vẽ cuộc đời
Đắng cay ngậm
lấy chuốt mời đau thương
Tình
thâm luôn mãi vấn vương
Nguyện
long ghi khắc tìm đường báo ân
Thế rồi, sự vất vả bên bờ kinh cạnh ngôi nhà cũ kỹ ấy được thay thế
bằng sự yên ổn hơn sau khi gia đình ba má tôi dời về cư ngụ tại đường Núi Sam
gần Chùa Châu Viên. Tôi bắt đầu lớn lên tại đây và bắt
đầu lập nghiệp nơi xứ người xa lạ. Cho dù cuộc sống gia đình ba má tôi
khá hơn so với lúc bắt đầu định cư, nhưng ba má tôi cứ lặn ngụp trong cuộc sống
với đủ mọi nghành nghề để lo cho các con nhất là tôi, con trai duy nhất của gia
đình.Tôi bắt đầu đi học với một ông giáo dạy tại gia. Cuối cùng, ba tôi xin
được một việc làm tại Chi Công-Chánh Châu-Đốc, ông Bùi Thanh Trà giữ chức vụ
Trưởng Chi Công-Chánh lúc ấy. Cơ quan nầy trực thuộc Ty
Công-Chánh Long-Xuyên. Ba tôi được giao nhiệm vụ tu bổ
đường Hàng Tỉnh 48 (bây giờ mặt đường có thể cấu tạo bằng bê-tông nhựa).
Sự kết cấu của đường Hàng Tỉnh 48 rất đơn giản, nền đường phần lớn là đất thiên
nhiên, mặt đường trải đá xanh, tram kẽ đá bằng đất pha
cát lấy ở hai bên lề đường. Mặt đường dễ bị sói mòn khi có nước ứ động hoặc mưa
lũ. Tình trạng nầy gây nên mặt đường
có ổ gà và sự lưu thong gặp nhiều khó khăn, nên sự tu bổ rất cần thiết. Đó là trục lộ từ Nhà-Bàng đến quận Tri-Tôn qua núi Két. Ngày
xưa có câu:
Cỏ leo lề bị lục lộ làm oai
Từ đó gia đình ba má tôi lại hồi hương hầu thuận tiện
cho việc làm của ba tôi. Tôi ở trọ
tại Châu-Đốc để tiếp tục đi học và vào trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa năm 1956
với lớp đầu tiên của bậc Trung học Đệ Nhất Cấp
Vành
môi hé nở nụ cười
Như
tằm nhả sợi cho người dệt tơ
Vẫn
con đường đó mối ngày dẫn tôi đi từ nhà trọ đến trường. Bao nhiêu suy nghĩ của
tuổi học trò ngây thơ được phủ kín một đoạn đời đơn độc. Con đường Núi Sam và
Thủ Khoa Nghĩa đưa tôi đến bến bờ của cuộc sống hoàn hảo sau nầy nhờ sự vun bồi
những tinh hoa của các Thầy và các Cô. Tôi về thăm ba má tôi
mỗi tháng và phụ trông coi cửa hàng với má tôi. Gia
đình ba má tôi lúc bấy giờ lấy lại ít nhiều sự sống bình thường của thời kỳ
trước khi tản cư. Tuy
nhiên, tôi cảm nghe một khắc khoải trong lòng, một bùi ngùi khôn
tả vì sự bận bịu của ba má tôi trong công việc hàng ngày.
Tôi miệt mài sách đèn và luôn đạt được kết qủa tốt vào mỗi cuối
năm. Đến lớp cuối cùng của trường Thủ Khoa Nghĩa vào năm 1962, tôi trở
về nhà ba má tôi sau kỳ thi Tú Tài I tại Cần Thơ…
Khăn trắng màu tang đến bấy
ngờ
Mẹ
hiền chờ đợi đứa con thơ
Tưởng
niệm ba tôi đà vĩnh quyết
Ba
ngày hoang lạnh nắm mồ trơ
Thật vậy, ba tôi đã chết cùng với năm người khác kể
cả tài xế trong một tai nạn đi sữa cầu ở vũng Tri-Tôn. Tim tôi như ngừng lại, lòng mình
đau nhói từng cơn hòa cùng những giọt lệ đau thương luôn tuôn chảy. Sự
tang thương bao phủ gia đình kể từ lúc ầy, má tôi buồn bã từ ngày nầy qua ngày
khác. Gia đình tôi gặp khó khăn kể từ khi ba tôi mất.
Kinh tế gia đình trở nên sa sút. Thế rồi, tôi có kết
quả đậu Tú Tài I tại Cấn-Thơ. Lúc nầy, tôi sực tĩnh và nghĩ….
Không công danh thà nát với cỏ cây
Thân
đã có ắt danh đành phải có
(Nguyễn
Công Trứ)
Tôi
xin phép má tôi lên Sài-Gòn để nộp đơn thi vào trường Cao-Đẳng Công-Chánh (Ban
Trung Đẳng), Trường Sư Phạm hai năm, Quốc Gia Thương Mại….
Tôi trở về quê giúp má tôi trong công việc hàng ngày. Tôi
dạy học tại nhà vào dịp hè cho những học sinh bậc Tiểu Học để phụ má tôi trong
cơn túng thiếu. Tiếng gió hú về đêm cùng sương lạnh của núi
rừng tạo nên một khoảng trống rộng lớn cho tôi. Những ưu tư dai dẳng, những lo âu đợi chờ khiến cho tôi như một người
thất chí. Tôi thấy cuộc đời trước mắt sao quá vô vị, đau khổ trong biển đời
trầm mặc…….
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị
quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh….
(Vũ Hoàng Chương)
Thời gian lặng lẽ trôi qua, việc dạy kèm các học sinh
tại nhà sắp hết vì đến ngày tựu trường. Nỗi buồn da diết lại đến với tôi một cách mãnh liệt.
Thời gian và không gian sao quá khắc khe với tôi khiến cho tôi như một kẻ điên
loạn…. Thế rồi, một ngày đó người phát thơ mang đến cho tôi những niềm vui bằng
tin báo tôi đậu vào trường Cao-Đẳng Công-Chánh, Trường Sư Phạm. Tôi chọn ngành
Công-Chánh theo lời khuyên của má tôi hầu nối tiếp nghề nghiệp của ba tôi. Kể từ đó, tôi lên Sài-Gòn học cho đến khi mãn khoá ra trường và
được bổ nhiệm làm việc tại Ty Công-Chánh Khánh-Hoà, Thị Xả Nha-Trang. Lại một lần tôi xa quê hương với hàng ngàn cây số. Mỗi lần
về thăm nhà phải đi qua Đà-Lạt hoặc dùng phương tiện máy bay đến Sài-Gòn rồi
mới đi Châu-Đốc. Thế rồi……
Công chức cuộc đời chưa thanh thản
Cởi
bỏ dân y bước lên đường
Thi
hành nghĩa vụ như muôn vạn
Trai
trẻ ngày nao mãi vấn vương
Sau đó, tôi được làm việc tại Cần-Thơ trong binh chủng Công Binh.
Công việc ở đây cũng giống như Ty Công-Chánh. Có lần
đơn vị tôi yểm trợ cho Ty Công-Chánh Châu-Đốc đại tu bổ đường Hàng Tỉnh 48,
đường về quê tôi. Má tôi vĩnh viễn ra đi trong thời gian nầy sau một cơn bạo
bịnh. Tôi làm việc sáu năm sáu tháng trong binh chủng Công
Binh và được trả về Bộ Công Chánh. Ở đây bổ nhiệm tôi
về Ty Công-Chánh Bình Thuận, tỉnh Phan-Thiết. Tôi làm
việc tại đây cho đến ngày cuối tháng tư năm 1975.
Hôm nay trên đất nước người, tôi được mai mắn phục vụ
cho Bộ Công- Chánh của Tiểu Bang California. Cho dù ở bất cứ vị trí nào, hoàn
cảnh nào, môi trường nào tôi luôn nghĩ về quê hương mến yêu vì thuở thiếu thời
tôi chưa có một lần ấp ủ và nghĩ ngợi. Hơn nữa, bao nhiêu kỷ niệm vui
buồn được tích lũy vào cội nguồn gọi là Thất-Sơn huyền bí va Châu-Đốc thân thương. Do vậy, lúc nào tôi cũng
luôn mong tưởng:
Nghe ai gọi tên quê hương ta đó
Nơi
tha phương ta quặn thắt lòng đau
Vọng
vào hồn nỗi cảm xúc nao nao
Như
tiếng nói hay bước chân bạn cũ
(Phỏng dịch thơ của
Alphonse de Lamartine;
trích trong Lá Thư Ái-Hữu Công-Chánh)
Mùa Xuân 2006
Bắc California