Đọc Lưu Nhơn Nghĩa, Cám Cảnh
Trên Những Mẫu Chuyện Rời
Trần Ngọc Mỹ
Cầm tập truyện ngắn “Con đường
cũ” của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa trên tay mà thấy ngậm ngùi,tôi nhớ và tiếc một
tài hoa của miền Thất Sơn Châu Đốc mình vừa mất (tôi biết Anh Nghĩa khiêm tốn không
nhận từ tài hoa này), nhưng đọc anh kỷ lại mới thấy anh là tài hoa thứ
thiệt, kiến thức văn học dân gian anh uyên bác thiệt .Tôi với Anh Nghĩa chưa hề
quen biết nhau, nhưng đọc truyện của anh viết, tôi thấy cái thật thà chơn chất
của người dân miệt núi mình làm người ta rất dễ gần gũi, dễ thân. Ban đầu, tôi
đọc anh là vì biết anh là dân Châu Đốc, tôi khoái, nhưng đọc kỷ lại không
phải chỉ vì lý do đó mà vì một thứ khác hơn, hay nói huỵch tẹt ra là tôi mê vốn
liếng văn học rất dân dã mà cũng rất phong phú đó của anh. Nhớ lần đầu tiên đọc
anh trên “Việt Nam Đi Tới”với “Tàu Tây kia liệt mái”,với phong cách viết, anh
quay quắt đi tìm một phần tinh anh của câu ca dao xuýt bị mất, thấy anh như reo
vui khi tìm lại được linh hồn của câu ca dao lâu ngày thất lạc ôi! nó thật cảm
động, không phải cảm động chỉ vì cái tấm chân tình của chàng trai gởi lời thề
thốt trong câu hát kia, đọc mà nghe nó thấm làm sao đả làm sao, biết chừng nào
mà xán(xáng) nọ (nó)bun(bung) dành(vành) rồi tàu Tây kia (mà) nó liệt mái (máy)
thì anh mới đành bỏ em, đã thề tới bến như vậy thì chỉ có trời gầm mới nhã ra
thôi, thế rồi tôi ngồi riết hết một ngày,(bèn gọi điện thoại vào trường xin
nghĩ bịnh) nghỉ đi làm một buổi để đọc cho hết tập Như cánh Chuồn Chuồn luôn, để
biết cho được cái tài hoa của tác giả ,là dân Xà Tón,Châu Đốc mình.
Từ trước tới giờ nói tới Châu
Đốc là người ta chỉ nói tới đất biên địa năm non bảy núi, là nói đến hảo
hớn giang hồ cá lội đầy sông, là nói đến chuột rắn đầy đồng hay hơn nữa là mắm
ngon đầy hũ. Chớ nào ai nói Châu Đốc quê tôi uyên bác văn thơ, trử tình thi sĩ,
lãng mạn thơ ca, đậm đà thi pháp. Nhưng không ngờ hôm nay tôi biết được đất thất
sơn mình có được một Lưu nhơn Nghĩa nên tôi khoái lắm, vì nhờ có đọc được anh
mà tôi tìm lại được cái hồn, cái chữ miền Nam của một thời lưu lạc, mà gần
như thời buổi thực dụng bây giờ ít ai còn để ý tới..Nhưng càng đọc
truyện của anh thì càng thấy không phải chỉ có vậy mà còn có nhiều cái hay khác
nữa, cái mộc mạc bình dị, cái dí dõm duyên dáng, cái chất phác thật thà chuyện
sao nói vậy mà không phải ai cũng có thể viết lên được thành một cái truyện có
nghệ thuật. Nghệ thuật viết của hia Nghĩa là ở chổ có khi anh viết truyện chỉ
có vài trang có khi chỉ nữa trang nhưng có khi phải đọc đi đọc lại vài ba lần
nó mới thấm. Nó là tài tử nhưng mà như chuyên nghiệp, anh có những cảm nhận
tinh tế với những câu ca dao dân dã miền Nam mình, nói một cách khác là anh có
khã năng sờ mó được cái tinh chất của ca dao thấm đậm chất dân dã miền Nam đó
mà tôi vô cùng bái phục, đôi khi tôi cũng có những cảm nhận đó nhưng mà muốn viết
lên, nói lên hỏng được, nên khi có người nói dùm, viết ra dùm thì nó đả, như ngứa
mà có người gãi dùm. Như trong cái truyện “Tàu Tây kia liệt mái” hay truyện chị
vợ anh nghĩa quân bưng từng chén thuốc lo cho chồng lúc bị bệnh ngặt khi lành rồi
đành đoạn đi theo cái con đ….. . chó đó. Chớ chị có biết đâu
Chiếc tàu lặn chạy mau dường
gió
Chiếc xe hơi chạy lẹ như
dông
Việc ở đời vợ vợ chồng chồng
Thương nhau cũng vội dứt
lòng cũng mau..
Hồi cái năm 82 ,83 ở tù về, bị
chính quyền địa phương bắt đi công tác đào kinh đắp đê ở Lương Phi Ba Chúc mấy
tuần ròng rã, bị bọn côn đồ ỷ thế chính quyền bức hiếp chiều hôm thân thể rã rời
nằm ở ngoài hàng hiên nhà chị bán quán có đứa con nhỏ không biết chồng ở đâu
khi bên ngoài trời tối u u ,mưa rơi rấm rức,tiếng ếch nhái ran ran nghe mà rầu
muốn chết được, tự dưng chị nỗi hứng ru con ầu ơ một hồi, bậu buồn qua đây dễ
chẳng buồn Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay ơ.. ờ.., rồi có lẽ
cám cảnh muốn tỏ bày tâm sự của mình cho ai đó nghe chị ru tiếp:
Bên nầy sông em bắc cây cầu
mười tấm ván
Bên kia sông em lập cái
quán(chớ) mười hai từng
Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng
(để mà có) đợi anh ..ơ ờ
Chỉ xanh chỉ đỏ chỉ tím chỉ
vàng
Chim loan, chim phựơng,
chim cú chim nhàn
Ba bốn con chim quần tam tụ
ngũ
Đậu nơi lê lê rũ
Đậu nơi lựu lựu tàn
Khi xưa thiếp tưởng làm bạn
với chàng
Nào hay chàng nở phụ phàng
thì thôi.
Không biết ông chồng đi theo
vợ bé hay đi làm “lớn” bỏ chị mà chị ru con thê thiết quá.
Nước giữa dòng chê trong,
chê đục.
Vũng trâu đầm hì hục khen
ngon.
Thôi chuyện cũng cũ quá rồi,
bây giờ tuổi đời trên 6 xấp trên xứ người ngồi đây đọc lại tập truyện ngắn của
hia Nghĩa mà thấy thấm đẫm đủ thế thái nhơn tình trên vùng đất núi quê nghèo.
Người đàn bà ru con trong chiếc quán vắng đêm nào trên bờ kinh Lương Phi Ba
Chúc mới đào trong đó có bao giọt mồ hôi lẫn nước mắt của tôi của biết bao
nhiêu con người, bao nhiêu số phận linh đinh của một thời kỳ .. .hỏng giống ai
cũng đã từng vui với câu kinh “Tâm quá khứ bất khả đắc tâm hiện tại bất khả đắc
tâm vị lai bất khả đắc” nhưng mà kỳ quá sao lại nhớ hoài. Sau hơn 20 năm ngồi
đây trên xứ quê người này, nhớ lại những câu ru câu hò cũ, nghĩ không biết chị
chủ quán ngày nào có gặp lại anh chồng trở về bên mái lá với vợ không. Lại nhớ
đâm lao nữa rồi. Hồi đó tôi nghe ru con là chỉ để mà nghe ru con, rồi cảm hoài
thế sự mà mình đang phải chịu ,tôi không có cái tỉnh táo để ngồi ngẫm
nghĩ không thấy đó là ca dao để phân tích.Đọc truyện của hia Nghĩa
tôi mới thấy thương làm sao những cái chữ bậu “bớ mà”,chớ ,chớ bây giờ, …...
tìm thấy được cái duyên dáng ý như có cả tiếng thở than gởi gấm của cả một dân
tộc chớ không riêng của miền nào của Nam bộ mình, lại phải đi tìm, lục lọi bươi
móc lại cái kho tàng ca dao để mà ôm giữ nữa khi mà lòng mình cũng đã đầy ấp những
hoài niệm rồi. Đễ thư giãn chút tuổi già hãy nghe hia Nghĩa kể chuyện thằng cha
già mất nết bơi xuồng dưới kinh ngó lên sàn nước nhà người ta thấy nước chảy
(không biết nước gì) tức cảnh sanh tình cất cao giọng mà hò rằng , nước chảy re
re con cá he (nó) đè è è.. . con cá sặc cái tiếng đè nó đặc biệt hơn người ta,
hãy đọc hia Nghĩa kễ –“cái tiếng đè kéo dài lên xuống trầm bổng theo tiếng dầm(chèo)
đập nước vang xa bên bờ kinh vắng. Lão cụt hứng không tiếp tục hò cho trọn
câu…... (theo tôi, tay già dịch nầy thấy ai đó, y hò bấy nhiêu để đố chừng thăm
dò phản ứng của người ta ra làm sao để may ra kiếm chút cháo chớ y ta không cụt
hứng bất tử như vậy), thì đây có ép phê liền, nhận một trả mười, tôi đồ chừng y
ta hí hửng lắm với tiếng đè.. .kéo dài ngâm nga đó, y ngóng lỗ tai giảo để
nghe, “bớ thằng cha già dịch vật nứng c….. . nói trây”, tôi đồ chừng y lùng
bùng hai cái lỗ tai bơi xuồng dông tuốt luốt.
Trong vài nhân vật đáng nhớ,
đoạn anh viết hồi năm 1953, có tên bợm bảy ở cái xứ khác tới làm một cú lừa ờ
chợ làng anh mà tiệm chạp phô của ông thân sinh anh cũng là nạn nhân, anh viết:
“Tên nầy không biết trẻ hay già. Hắn vào tiệm ông già tôi mua cưa bào
đinh dây chì v..v, mua xong(chưa trả tiền) hắn gởi hàng tại tiệm, nói chờ mua
các món khác cho đủ rồi sẽ trả tiền và chở đi một lượt. Hắn lại mang tới tiệm
tôi gởi mấy bao hàng mua ở tiệm khác.Thấy hắn còn gởi mấy bao hàng ai cũng
tin….. . . . chiều đó,mới biết có nhiều tiệm bị gạt đúng một kiểu,tiệm nào cũng
có vài bao giẻ rách. Ông già tôi tức lồng lộng, chửi bà già tôi ngu rồi chửi
luôn tôi cũng dòng ngu. Ông hăm he, nếu tên bợm trở lại ông chém hắn đứt đầu.
Khi nghe các tiệm khác cũng bị gạt, ổng tự an ủi, ừ ai mà biết được”. (Thằng
con có dòng ngu không lẽ ông già khôn, mà chừng nào thằng bợm bảy trở lại để
ông chém đứt cái đầu). Ổng tự an ủi ừ ai mà biết được. (anh kễ nghe tỉnh bơ thiệt
hay).
Lưu nhơn Nghĩa thuộc nhiều ca
dao, thành ngữ, hiểu biết rành ca dao thành ngữ nên có khi anh đùa giởn
cũng bằng ca dao thành ngữ, ngày qua thăm bạn bè cũ tại Cali năm 2006, gặp lại
anh em sau mấy chục năm cách xa, nhắc lại những kỷ niệm xưa,anh chọc cười anh
em bạn bằng những câu như “họa hổ họa bì nan họa cách, chai nan, chai mín mó
chai xim” rồi “chờ em cho đến bao giờ, chờ cho ếch xại lên bờ khui hui”,
bạn bè phê một câu “tao khoái mầy chỗ đó”.
Không phải chỉ có ca
dao hò vè mà anh rành, đọc hết chuyện kể của anh mới biết anh biết đủ thứ,
vì anh hay hỏi chuyện cho ra đầu ra đuôi từ cái bông điên điển tới cây sào đo
công đất rồi nhân đó anh ca cẩm kể lễ chuyện quê anh, chuyện bà con giòng họ
anh (chuyện công tầm điền công tầm cắt), với cái công tâm hiếm thấy, cái đúng
cái sai theo công đạo chớ không theo thân sơ bỉ thử, không có gì thoát khỏi con
mắt tinh tế của anh khi anh có cơ hội quét qua, có khi anh quất thẳng thừng có
khi anh chua cay nhận xét, trong một dịp về thăm trường cũ anh viết: “tôi có nhờ
một bạn học cũ, cựu học sinh TKN, nhờ xin cho tôi quay phim lớp học xưa, giới
chức thẩm quyền không cho phép, lý do sợ dân ngoại quốc thấy nước mình nghèo
(!)” Hỏng biết ai sợ gì mà kỳ cục vậy.
Trần Ngọc Mỹ