Cuồng Điên Vì Nhớ
Trần Quang Thiệu
Chúng
tôi ngồi vòng quanh đống lửa. Trời Đà-Lạt đầy sao, không có gió nhưng cái rét rất
ngọt ngào. Vũ đập nhẹ vai Thủy, trao chiếc áo lạnh. Con bé mỉm cười cầm áo quấn
ngang vai. Tôi nghĩ thầm:
-
Hai đứa này yêu nhau.
Tùng
dùng một nhánh cây dài, khơi cho ngọn lửa cháy đều, đốm lửa bay cao như pháo
bông. Mắt Tùng lâu lâu lại ngước nhìn, như tìm kiếm, ngừng lại trên khuôn mặt
người ngồi phía bên kia đống lửa, nhưng cúi gầm khi chạm tia mắt Loan. Khi tôi
ở vào lứa tuổi đó, tôi cũng giống như Tùng, yêu nhưng không dám mở lời, không
dám nhìn thẳng vào mặt người mình yêu. Mối tình si nhẹ nhàng, chỉ một chút bâng
khuâng khi chia tay, giã từ mái trường bước chân vào đời.
Tôi
đang dạy môn vi tính tại một trường kỹ thuật của người bạn trên Đà Lạt. Tôi trở
về VN, nhưng gia đình tôi hãy còn ở bên Hoa-Kỳ, cuối tuần chỉ là những ngày trống
rỗng nên đã nhận lời mời của đám sinh viên theo họ vào rừng cắm trại gần thác
Đông Sơn. Tôi gần gũi với sinh viên như bạn bè và hầu như không có khoảng cách
thầy trò nên có cuộc vui nào họ cũng rủ rê tôi.
Viễn
bắt đầu dạo đàn, hát nghêu ngao:
-
… khi đưa em về là cách xa ngàn trùng …
Vũ
đề nghị:
-
Bây giờ mỗi người hát một bài, hoặc bày một trò vui gì đó. Người nào hát xong
có quyền chỉ định người kế tiếp. OK?
Thủy
cười:
-
Thế thì Vũ hát trước đi.
Có
tiếng lao xao:
-
Hát bài gì mà ‘Đừng xa em đêm nay’ hoặc ‘Yêu em dài lâu’ đó.
Vũ
nhìn Thủy, trả lời “Có ngay”, nhưng lại giới thiệu bản nhạc tên là ‘Đừng xa anh
đêm nay’ của tác giả Đức Huy. Viễn đệm đàn, đầu ngúc ngoắc theo tiếng nhạc, lâu
lâu lại trợn mắt nhìn Vũ khi Vũ hát sai tông.
Thủy
rồi Loan lần lần lượt hát những bài tình ca của TCS. Khi Loan hát xong tôi thấy
Tùng hồi hộp rõ ràng. Tôi không biết là Tùng mong Loan, hay sợ Loan sẽ chỉ định
mình. Loan chúm chím cười, con mắt nai tơ mở lớn, đưa ngón tay chỉ tôi:
-
Bây giờ đến lượt thầy Duy.
Cả
bọn reo hò:
-
Thầy Duy, thầy Duy …
Tôi
xua tay:
-
Các em biết là tôi không biết hát mà. Thôi để Tùng hát thay tôi đi. Tùng hát
hay lắm, và Loan có thể yêu cầu Tùng hát bất cứ bản gì Loan thích, thí dụ như
bản ‘Qua cầu gió bay’ chẳng hạn.
Cả
bọn cười ầm ĩ. Tôi thấy mặt Tùng đỏ gay, lính quýnh tiếp tục khơi ngọn lửa.
Loan lắc đầu quầy quậy:
-
Không. Thày … ăn gian!
Tôi
thấy Tùng gục đầu nhìn đốm lửa. Chắc là thằng bé không thấy thoải mái nên tôi
đành nhận lời:
-
Thôi được, nhưng thay vì hát để tôi kể cho các em nghe một câu chuyện tình, hay
đúng hơn chuyện của một nhóm bạn bè khi tôi còn là sinh viên như các em bây giờ.
Viễn
cười:
-
Ha ha, chuyện tình thày Duy!
Tôi
lắc đầu:
-
Không, chuyện của một người tôi coi như anh. Anh ấy tên là Dũng.
Loan
trao cho tôi ly café:
-
Loan thích nghe chuyện tình của thày, nhưng thôi thày kể đi.
Tôi
cưòi với Loan “Cám ơn em”, và bắt đầu.
Chuyện
xảy ra ở Berkeley California khi tôi bắt đầu năm thứ hai tại đại học danh tiếng
này. Năm đầu tiên chúng tôi thường sống luôn trong trường để làm quen với đời sống
sinh viên, nhưng kể từ năm thứ hai hầu hết chúng tôi đều ra ngoài thuê
apartment ở chung vì tự do hơn, và nhất là có cơ hội nấu lấy những món ăn VN
mà chúng tôi ưa thích.
Sinh
viên ngoại quốc như chúng tôi thường có khuynh hướng tụ tập chung một chỗ. Nhóm
chúng tôi khá đông, đa số là VN nhưng cũng có Eric Chang từ Đài Loan, Gina gốc
Palestine, và đặc biệt có một sinh viên Mỹ đang học về chính trị học tên là
Richard. Richard nói tiếng Việt rất rõ, và có tên Việt là Phú. Eric
thực ra sinh ở Chợ Lớn nên cũng biết chút tiếng Việt, tuy nhiên chúng tôi ‘cấm’
không cho nói vì mỗi lần Eric nói tiếng Việt là lại gây ra một trận cuời vì khẩu
âm ‘Ba Tàu’.
‘Cầm
đầu’ bọn tôi là anh Dũng. Anh nhiều tuổi hơn chúng tôi, theo học môn vật-lý địa
cầu, và đang làm luận án tiến sĩ về những đường bay cho các vệ tinh nhân tạo.
Dũng không những chỉ là đàn anh về học vấn và tuổi tác, anh còn là một mẫu người
lý tưởng, cao lớn, thân hình nở nang như một thứ James Bond. Dũng được học bổng
quốc gia, đã học xong Master, và đáng lẽ phải trở về VN nhưng anh đã quyết định
ở lại Mỹ, đi làm bán thời để tiếp tục học lấy bằng tiến-sĩ. Anh nói “Master giở
ông giở thằng, chẳng ra cái gì cả.”
Cùng
là sinh viên ngọai quốc nhưng Dũng không thích chơi với các sinh viên Ả Rập giầu
có tiền bạc rủng rỉnh, con cái những gia đình dầu hoả vương giả từ Iran, Saudi
Arabia, v.v…. Anh gọi họ là ‘Rệp’, và có lần dọa đánh thằng Saiid vì nó gọi Mỹ-Phượng
và Diễm là ‘Hey, babies’. Dũng không giao thiệp với ‘Rệp’ nhưng anh lại chấp nhận
Gina, cô gái miền Trung Á nhỏ nhắn, xinh xắn và dịu dàng như một nhà nữ tu.
Anh
nói:
-
Mắt con Na nó buồn quá. Không nhà đã buồn, không có mảnh đất dung thân cho cả
một dân tộc thật là điều bất hạnh.
Đặt
nickname cho bọn con gái cũng là do anh Dũng ‘đầu têu’ cho tụi con trai. Con
gái đứa nào cũng có tên trái cây tùy theo kích thước … nhũ hoa. Trong toà nhà mấy
chục phòng đó chúng tôi có đủ cả Cam, Cau, Dừa, Bưởi … chỉ thiếu Mít! Phú là
người thích thú với lối đặt tên này nhất. Phú gọi đó là ‘văn hoá VN, không thấy
ở Hoa kỳ’. Mùa hè Phú ngồi trên ghế dài cạnh swimming pool, ngắm đàn bà con gái
đến tắm, và lầm bầm đặt tên. Có đứa hỏi “What the hell are you saying?” Phú trả
lời tỉnh bơ là nó đang học nói tiếng Việt.
Gina
không biết ‘triết lý’ đó, hỏi tôi là sao lại gọi nó là ‘Na’. Tôi giải thích:
-
Người Việt chỉ gọi tên tắt, thí dụ như Mỹ Phượng chỉ được gọi là Phượng. Tên
bạn là Gina nên gọi là ‘Na’ là đúng mốt VN rồi.
Tôi
cười nói thêm:
-
Bạn muốn làm dâu VN, mang họ Nguyễn như anh Dũng thì bạn nên bằng lòng với
cái tên Việt Nam đó đi.
Tôi
thấy má Na đỏ hồng vì e thẹn! Cũng có vài điều kỳ lạ về Na. Trong lúc chúng tôi
chung phòng cho đỡ tốn kém (trừ anh Dũng đã đi làm part-time kiếm ra tiền), Na
một mình thuê riêng một phòng và hầu như không mời ai vào phòng mình bao giờ.
Thỉnh thoảng có một người con trai Palestine, Na giới thiệu là anh họ, tới đón
Na đi đâu đó đến khuya mới về. Có lần Trung, người chung phòng với tôi, trắng
trợn hỏi Na về ‘ông anh họ’ và châm chọc Na:
-
Mày có bồ rủ nhau đi kiếm chỗ kín đáo yêu nhau thì cũng là việc tự nhiên, cần
gì mà phải nói dối.
Na
chỉ mỉm cười bảo Trung:
-
You, dirty mind!
Phòng
anh Dũng là chỗ chúng tôi hay tụ tập vào cuối tuần để nấu ăn, hát hỏng và vui
đùa với nhau. Bao giờ Na cũng có mặt, và dù không hiểu tiếng Việt nhưng luôn
luôn giữ nụ cười trên môi. Chỉ khi nào chúng tôi vừa nói vừa nhìn Na thì Na mới
mở lớn đôi mắt nhìn lại như hỏi thầm “Các bạn nói gì về tôi?”
Nhiều
lúc mặc cho chúng tôi ồn ào, Na chỉ đứng yên một chỗ, lặng lẽ vuốt ve
những món đồ nhỏ mọn của anh Dũng như cây viết, khung hình, hoặc đơn sơ hơn,
cái ghế anh thường ngồi. Chúng tôi đều nghĩ là Na yêu Dũng và có lần hỏi anh:
-
Na nó yêu anh mà không dám nói. Anh biết không?
Dũng
gạt đi:
-
Không có đâu, chúng mày chỉ vớ vẫn. Với lại ‘hai phương trời cách biệt’, cuối
năm nay nó ra trường, phải về Syria, chỗ ‘bộ lạc’ nó tạm trú, chờ ngày thành lập
quốc-gia Palestine.
Dũng
nói không yêu Na, nhưng anh săn sóc Na tận tình. Trời mưa anh mang dùm chồng
sách nặng, che dù cho Na trên đường từ thư viện về. Có lần Na đau, Dũng nhờ Phượng
nấu cháo mang sang cho Na.
Phượng
hỏi:
-
Sao anh không mang sang. Na nó cần anh chứ cần gì cháo!
Dũng
cười gượng:
-
Chúng mày chỉ vớ vẩn.
Trade-mark
của Dũng là “Chúng mày chỉ vớ vẩn” khi anh không đồng ý với chúng tôi về bất cứ
chuyện gì. Anh coi mấy đứa VN chúng tôi như em út trong nhà, và có lẽ anh coi
Na cũng như một cô em gái diụ dàng. Na nhút nhát nên anh ân cần, còn Phượng thì
Dũng coi như em trai, có lần anh mắng ‘cứ như con gà tồ thế này thì đứa nào nó
mê’ làm Phượng giận mất mấy ngày.
Năm
đó Na tốt nghiệp cử nhân hoá-học, nhưng luận án của anh Dũng vẫn còn trục trặc.
Anh chê “Lão Smith lỗi thời và … ngu như con bò”. Smith là tên vị giáo-sư già
đỡ đầu luận án của anh. Thứ Năm nào lên gặp giáo sư về anh cũng càu nhàu và buồn
bã. Na còn buồn hơn, quấn quít bên anh suốt ngày như có gì muốn nói nhưng không
nói được ra lời. Hôm giã từ Na ôm hôn từng đứa trong bọn, nhưng lại đúng chết lặng
trước mặt anh Dũng rồi oà khóc, bỏ chạy ra xe do ‘thằng anh họ’ lái đang đứng
chờ. Anh Dũng nhìn theo thở dài nhưng cũng không nói một lời.
Anh
rủ tôi và Trung:
-
Chúng mày đi uống rượu với anh không?
Phượng
lên tiếng:
-
Cho em đi với.
Đêm
đó chúng tôi ngồi ngoài bar gần cổng trường cho đến khuya. Trên đường về Dũng
hát lè nhè:
-
Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về, gọi hồn liễu rũ lê thê ...
Khi
chia tay về phòng anh nói thật buồn:
-
Bây giờ Gina nó đi rồi tao mới biết là tao yêu nó thật.
Mùa
hè năm ấy chúng tôi tạm chia tay. Anh Dũng ở lại tiếp tục đi làm và tiếp tục hục
hặc với ông Smith già. Tôi sang Washington DC thăm bà cô đang làm việc tại toà
Đại sứ VN. Trung, Phượng, Diễm, Eric và Richard cũng đi thăm họ hàng hay bạn
bè, hẹn nhau tháng Tám trở về nhập trường và lại sống quây quần như trước đây.
Tôi
trở về đầu tiên, và ngay ngày đó tôi gặp anh Dũng ngồi trên ghế đá ngoài vườn
hoa nhỏ trước nhà. Tay anh cầm lá thư, gục đầu, không buồn trả lời câu chào hỏi
của tôi. Tôi ngồi xuống bên Dũng:
-
Anh sao vậy? Duy đây mà!
Dũng
vẫn cúi đầu, một phút trôi qua rồi anh mới nghẹn ngào:
-
Na nó chết rồi!
Tôi
giật bắn người. Khi chia tay Na hẹn sẽ viết thư khi chúng tôi trở lại trường.
Tôi vẫn nhớ đôi mắt u-buồn của Na, và vẫn mong Na tìm được một chốn bình yên,
không hận thù. Tôi thấy mình thổn thức:
-
Tại sao lại thế? Ai nói cho anh nghe?
-
Thư của Na. Nó viết trước khi chết. Hôm nay cũng được hơn một tuần rồi. Cũng
tại anh phần nào.
Dũng lại ngồi yên,
tôi cũng im lìm. Hồi lâu Dũng nhìn tôi:
- Duy biết ‘thằng anh họ’ của Na không? Thằng Reza đó.
Thực ra thì nó chính là tổ trưởng của Na. Na được gửi sang bên này, học về hóa
học để trở về bên đó làn việc trong một phòng Lab chuyên chế bom nổ chậm cho
các đoàn viên cảm tử mang đi giết hại dân Do Thái. Thỉnh thoảng Reza đón Na đi
họp tổ, học giáo điều và kiểm điểm hành động của đoàn viên. Chúng mình không
tin nó là ông anh họ, cứ nghĩ rằng họ là tình nhân.
Anh
đưa cao lá thư:
-
Này Duy xem, Na nó viết, để anh dịch cho chú nghe: “Bây giờ thì em xa anh nửa
trái địa cầu, bây giờ thì em mới có can đảm nói với anh là em rất yêu anh. Em
muốn làm con chim nhỏ bé để được anh che chở suốt đời, nhưng như anh biết, em
mang trong người một ‘sứ mạng’, em không được nghĩ đến mình, đến tình yêu nên
dù yêu anh muôn vàn em cũng không dám nói lên lời. Bây giờ thì đã khác, em nói
bằng con tim … nhưng dù sao thì cũng đã muộn rồi.”
Dũng
ngừng lại như nén cơn xúc động trưóc khi nói tiếp:
-
Thư dài lắm, nhưng để anh tóm tắt cho chú nghe. Reza nó cũng yêu Gina, và
bây giờ thì chú biết tại sao nó nhìn chúng mình gầm gừ mỗi lần nó đến đón Na.
Khi về nước nó tỏ tình. Na từ chối, Reza ngỡ ngàng nhưng rồi thì nó cũng biết
là Na yêu anh. Nó điên lên, kết tội Na là ‘phản bội’, và cố gắng thuyết phục Na
nhưng Na vẫn cương quyết chối từ. Cuối cùng chú biết không, nó dùng quyền hạn
và giáo quy ra lệnh cho Na mang bom vào Do-Thái, tự sát trên xe bus đông người,
hy-sinh cho quốc giáo. Đây chú nghe thêm đoạn thư này:
“Em yêu dân mình và em yêu tổ quốc Palestine nhưng em không thể
nào đi giết người vô tội như người ta muốn em làm. Anh biết không, em thấy được
tấm lòng bao dung của anh và của bạn bè VN, em yêu nếp sống hiền hòa của các
anh, và em đã hiểu là tình thương chứ không phải hận thù mới giải thoát được
con người.
Duy có lần hỏi em có muốn làm con dâu VN, mang họ Nguyễn của anh
hay không. Anh ơi, đó là giấc mơ một đời và em sẽ ôm ấp xuống suối vàng. Khi
anh đọc thư này thì em đã ra người thiên cổ. Em không đi giết người đâu. Đêm
nay em sẽ chết, nhưng chỉ mình em. Tình yêu em dành cho anh sẽ không chết. Nếu
có thiên đường em sẽ đứng trên đó trông xuống trần gian mà gọi tên anh.”
Dũng
nấc lên và tôi cũng thấy mắt mình cay cay.Tôi vỗ vai anh:
-
Thôi anh ạ, như Na nói, mọi sự cũng đã muộn rồi.
Dũng
như nghẹn lời:
-
Giá hồi đó anh đừng u mê với cái luận án khốn khổ này, giá anh nói vớí Na rằng
anh thương đôi mắt u-buồn của Na nhưng anh cũng thương em côi cút, và anh yêu
em, muốn che chở cho em suốt đời thì biết đâu bọn anh chẳng đã có hạnh phúc bên
nhau, Na đã không chết thảm, và anh không thấy mình chẳng ra gì.
Tôi
an ủi Dũng:
-
Dù anh có nói, dù Na có nói, và dù hai người có yêu nhau tha thiết thì hạnh
phúc đó cũng sẽ không lâu dài. Bọn người điên cuồng đó cũng sẽ không dung tha
Na. Họ sẽ tìm Na dù cho góc biển chân trời, để trả thù kẻ họ coi là phản giáo.
Yêu anh tha thiết mà Na không dám nói chỉ vì nghĩ đến sự an nguy cho cả hai người.
Na đã hy sinh cho anh, cho tình yêu.
Dũng
nghiến răng:
-
Anh muốn qua Do-Thái đầu quân, đi giết hết mấy thằng độc ác dã man vô nhân đạo
đó!
Tôi
mỉm cười:
-
Anh nghĩ quẩn rồi. Thứ nhất, chắc gì Do-Thái nhận anh. Hơn thế nữa anh sẽ phụ
lòng Na. Na yêu anh, học được của chúng mình tấm lòng bao dung và nếp sống hiền
hòa. Anh làm thế sao đành.
Dũng
buồn gục đầu. Tôi rủ Dũng:
-
Anh em mình đi uống rượu. Em còn ít tiền bà cô cho. Hôm nay em bao anh. Uống
cho đỡ buồn.
Gần
tới ngày khai trường nhóm bạn bè về dần và chúng tôi lại tụ tập vào cùng khu
apartment trước đây. Khi nghe tôi kể chuyện Reza và Na, Eric bật lên chửi thề:
-
Lù mẹ thằng chó lẻ. Son of the bitches!
Ðang
buồn tôi cũng bật cười:
-
Eric, bọn tao đã cấm mày nói tiếng Việt mà.
Anh
Dũng bỏ Berkeley ngày chúng tôi tựu trường. Anh nói không có hy-vọng gì được
lão Smith già chấp nhận luận án của anh. Anh xuống Nam California làm việc cho
Hughes AirCraft Company, một hãng chuyên về quốc phòng và vệ tinh nhân tạo, một
vài năm rồi sẽ trở về làm lại từ đầu.
Hơn
thế nữa, anh tâm sự:
-
Mỗi lần đi ngang căn phòng cũ của Na anh không khỏi đau lòng. Anh nghĩ về Na
quá nhiều nên không thể ở lại nơi này.
Sau
đó, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn liên lạc bằng thư, nhưng đó là lần cuối cùng tôi
gặp anh. Cuối năm học đó cả Trung và Phượng ra trường, và sẽ làm đám cưới. Hai
đứa yêu nhau và không muốn mất cơ hội như anh Dũng và Na. Tôi gửi thư báo tin
và hỏi:
-
Anh về không?
Thư
trả lời của anh làm tôi ngỡ ngàng. Anh hỏi:
-
Phượng nào thế nhỉ?
Tôi
không thể nào tin được là anh đã quên chúng tôi, và quên mau như vậy. Tôi điện
thọai cho anh. Anh nhận ra tôi nhưng chỉ sau câu hỏi thăm thông thường anh bắt
đầu nói về Trang Tử, nói về người đàn bà quạt mồ, về con bướm, và anh làm tôi sững
sờ:
-
Anh mới gặp Na!
Tôi
biết là anh không còn bình thường nữa, và đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện
với anh. Vài năm sau tôi gặp Ngọc, em gái của Dũng, tôi hỏi về anh. Ngọc nói
thật buồn:
- Anh Dũng vào nhà thương vì bệnh tâm thần mất mấy
tháng. Xuất viện, anh qua Georgia làm việc cho Lockheed Martin, nhưng
chỉ được ít lâu sau anh biến mất. Hôm mẹ em qua đời ở Pháp cũng không thấy anh
ấy sang. Em không biết bây giờ anh Dũng ở đâu, còn sống hay đã chết.
Tôi
kết thúc câu chuyện, ngồi trầm ngâm. Thủy nói:
-
Chuyện buồn quá.
Vũ nhìn Thủy âu yếm:
-
Chuyện Trung và Phượng đâu có buồn, chúng mình …
Vũ ngập ngừng không
nói tiếp, nhưng mọi người hình như đều hiểu Vũ muốn nói gì. Thủy chớp mắt, yên
lặng đưa bàn tay nắm tay Vũ.
Tôi nhìn Tùng:
-
Như các em biết, chuyện tình nào cũng có những giây phút vui buồn. Miễn là các
em thành thật với lòng mình, và đôi khi cần một chút quyết tâm, phải không
Tùng.
Tùng hình như tự tin
hơn, ngước nhìn mọi người cười nhẹ:
-
Thầy Duy nói vậy nhưng tôi thấy có khi, và có những chuyện, mình chỉ muốn giữ
cho riêng mình. Như thế nó đẹp hơn nhiều.
Viễn la lớn:
-
Khai ra đi. Biết đâu tụi này chẳng … giúp được một tay!
Tùng chỉ lắc đầu mỉm
cười. Tôi nói thêm:
-
Không phải chỉ có tình yêu mới làm chúng ta ‘cuồng điên vì nhớ’. Có những tình
bạn, nhất là tình bạn thời niên thiếu như tuổi các em bây giờ, cũng làm chúng
ta nhớ mãi khôn nguôi.
Viễn pha trò:
-
Thế thày có … điên như chúng em không?
Tôi mỉm cười:
-
Có lẽ còn … điên hơn các em một chút. Năm 17 tuổi tôi và hai người bạn cùng
lớp leo lên đỉnh Lâm Viên, đốt lửa ngủ qua đêm. Khi đó núi rừng còn hoang vu,
chỉ có một con đường mòn giốc ngược dẫn lên núi chứ không có đường xe chạy như
bây giờ. Trời gần sáng chúng tôi ngủ quên, tàn lửa bay xuống triền núi làm cháy
rừng. Khi biết được chúng tôi chỉ còn đủ thời giờ chạy xuống núi như bị heo
rừng đưổi. Chỉ có Du trốn thoát còn tôi và Đỗ bị một nhân viên canh rừng ở chân
núi bắt dẫn về đồn cảnh sát Đà-Lạt vì tội đốt rừng.
Viễn hỏi:
-
Thế thày bị … tù mấy năm?
Tôi cười xoà:
-
Một nửa ngày! Ba của Ðỗ được thông báo bằng điện thoại, tới lãnh tụi tôi ra.
Chúng tôi là bạn thân nên ba của Đỗ cũng coi tôi như con. Ông bợp tai mỗi đứa
mấy cái và sỉ vả cho một trận. Chưa hết, lúc đó không rõ từ đâu Du lò dò ló đầu
ra, xin chịu tội chung. Ba của Ðỗ tức quá lại cho mỗi đứa thêm một cái bợp tai
nữa! Khi cha con Ðỗ đã lên xe ra về, tôi cằn nhằn, hỏi Du ló đầu ra làm gì để
bị ăn đòn. Du ôm vai tôi ngậm ngùi kể lể “Thấy chúng mày, nhất là mày, bị đòn
tao không đành lòng trốn mãi sau gốc cây”. Du móc túi đưa cho tôi chiếc bắp
nướng, thì thầm “Muốn mua cho mày ổ bánh mì thịt nhưng không đủ tiền, thôi ăn
tạm cho đỡ đói”. Du còn theo tôi về tận nhà, phân trần với bố tôi là chính Du
vô ý làm cháy rừng chứ không phải tôi.
Tôi nhấp một ngụm
café, đưa mắt nhìn đám sinh viên:
-
Các em biết không, chỉ vì một chút chân tình đó mà tôi nhớ tới bạn tôi suốt
đời. Tiếc rằng hoàn cảnh đưa đẩy, Du vào quân đội và tử trận, mất xác bên Hạ
Lào. Được tin tôi đã khóc nức nở. Không biết sau này mẹ Du có ‘lên núi tìm
xương con mình’ hay không. Mà thôi, tôi lại kể chuyện buồn nữa rồi. Xin lỗi các
em nghe.
Loan lại gần tôi, đỡ
ly café đã nguội lạnh:
-
Để Loan lấy café nóng cho thầy.
Tôi lắc đầu:
-
Các em cứ tự nhiên vui chơi. Tôi xin phép đi ngủ trước. Vào tuổi này tôi không
còn thức khuya được như xưa.
Tôi trở về chỗ nằm,
nhìn lên bầu trời sao. Tôi nhớ tới Du, tới Bích tới, tới Vinh, tới những người
bạn đã qua đời và tôi thấy lòng chùng xuống u buồn. Viễn lại dạo đàn hát nghêu
ngao “Ðừng nhìn anh nữa em ơi….”. Tôi nhìn sang, lửa vẫn cháy bập bùng, có
những mái đầu chụm lại gần nhau hơn, nhưng cũng có đôi mắt lẻ loi nhìn về phía
tôi. Hình như là mắt Loan.
Mùa Xuân – 2006
Nguồn:
www.vinasoft.com