CÂU CHUYỆN TÌNH NĂM MƯƠI
NĂM TRƯỚC
Trần Văn
Chuyện đời, người ta thường
muốn nhớ lại hay quên, chuyện muốn quên lại càng gợi nhớ, trong khoảnh khắc hay
dai dẵng, tiêc nuối, vui vui hay buồn buồn…
Một buổi chiều tại một nơi
vắng vẻ, tĩnh mịch, nằm ở ranh giới hai quận hạt San Joaquin và Sacramento, có
quốc lộ 99 chạy ngang qua. Đây là vùng quê chuyên trồng nho và sản xuất rượu
chát nổi tiếng ở miền Bắc Cali, cách Thủ phủ Sacramento chừng 20 phút lái xe,
chỉ sau Napa-Sonoma, gần Bay Area, là cái nôi có nhiều nhãn hiệu rượu chát ngon
nổi tiếng trên cả nước Mỹ và thế giới. Ánh nắng còn rơi đọng trên con đường
làng với hai hàng cây cọ thẳng tắp, một chiếc xe đơn độc từ từ lăn bánh về một
nơi chốn xa xa như vô tận gợi lại trong trí của những người cao niên nhớ về dĩ
vãng xa xôi…
Đi
về một thế giới hoan lạc bình yên nhất của một chiến sĩ Hải Quân như là một
cuộc hải trình xuyên đại dương phẳng lặng của người lính biến năm xưa. Đây là
cuộc vượt sóng tít mù khơi cuối cùng, người chiến sĩ lính biển ấy sẽ không bao
giờ trở lại với gia đình, với chúng ta cùng chiến tuyến với anh trong thời xếp
bút nghiên theo việc kiếm cung, trước năm 1975.
Tình cờ, Hừng, tên cúng cơm
của một anh lính già hết thời đang đếm thời gian chờ đến lượt lấy vé tàu suốt
như bao đàn anh với tuổi đời nặng trĩu trên đôi vai gầy guộc, kể cả đàn em,
tuổi tác còn nhỏ, lại có tánh ba gai cũng quyết hoàn thành nhiệm vụ sớm giã biệt
thế gian.
Vài tháng nay vì bận việc,
Hừng không đọc báo nên chuyện này chuyện nọ xảy ra trong cộng đồng ở cái xứ
thung lũng Sacramento này đang là giữa mùa allergy của các thứ hoa phấn làm
ngất ngư nhiều người, Hừng không biết mô tê ất giáp gì cả nên như kẻ bàng quan
tụt hậu, thỉnh thoảng chàng cũng được nghe bạn bè thông báo tin này tin nọ xảy
ra trong cộng đồng người Việt mình... Tình cờ, Hừng đọc trên Hải Vân, một tờ
báo địa phương, trước đây có những bài báo làm cho nhiều người phải suy nghĩ về
nhiều vấn đề, một cái cáo phó đăng nguyên một trang thông báo về cái chết của
Hải Quân Trung Tá Nguyễn Phước Đức, một cái tên vừa lạ lại cũng vừa quen nữa,
Hừng mường tượng, người có cái tên này liên quan đến một gia đình mà Hừng rất
quen thân những năm 1957 – 1958 từ Sài Gòn đến tận xứ Tầm Vu của tỉnh Long An.
Đọc lại cáo phó, thấy có tên
người em họ của người quá cố, Nguyễn Phước Ch., Hừng có linh cảm, đúng rồi, câu
chuyện tình dở dang của 50 năm xưa đã như cuốn phim quay chậm với gia đình
Nguyễn Phước Ch…, anh Ch.cũng là một chiến sĩ Hải Quân.
----------
Trận mưa Ngâu day dứt tháng 7
năm 1957, người thầy giáo tiểu học của một tỉnh lẽ ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long, có vài bạn học cũ từ Thủ đô Sài Gòn hoa lệ về quê nghỉ hè. Họ mang theo trong
người mảnh bằng tú tài 1, người thì có tú tài 2 và có cả người bạn đã thi đậu
vào truờng Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương, cũng là niên học cuối cùng của chương
trình đào tạo giáo sư trung học theo mô thức giảng dạy của người Pháp, cổ kính và
lịch sử này. Tất cả những người bạn thân ấy, từng mài mòn ghế tiểu học và các
lớp của chương trình “Văn Bằng Cao Đẳng Tiểu Học Đông Dương” với cái tên tiếng
Tây dài ngoằn Diplôme d’Étude Primaire Supérieuse Indochinoise - viết tắt là
D.E.P.S.I. Ông giáo trẻ, Trần Văn Hừng, mới bước qua tuổi 20, bổng nhiên cảm
thấy hụt hẩng vì thiếu cái bằng cấp tú tài để còn ăn nói với đời và cũng là cần
câu cơm nuôi sống bản thân dễ dàng tốt đẹp hơn. Thời đó, các cô con gái nhà
giàu hay các cô tiểu thơ khuê các thường có ý nghĩ chọn lựa các chàng trai làm
chồng, điều kiện ắt có và đủ là phải có bằng tú tài trở lên không có bằng tú
tài hay đại học thì bất thành phu phụ. Sau này, thời chinh chiến ác liệt, các
cô nữ sinh chỉ thích yêu hay ham muốn chọn tấm chồng người chiến sĩ có hoa mai
trên vai, trên cố áo hơn là có cánh gà bên tay áo hay người lính trơn. Sự ham
muốn và thực tế, toại nguyện hay không lại là chuyện khác.
Hơn 50 năm trước, ở Việt Nam,
ai thi đậu đươc một cái văn bằng tiểu học đã là khó rồi. Với mảnh bằng tiểu học
gọi là Certificat d’Étude Primaire Complémentaire Indochinoise, viết tắt là
C.E.P.C.I., người ta có thể xin vào làm việc tại các công sở, gọi là thầy thông
thầy ký hay xin đi dạy học ở các trường làng đang rất cần giáo viên. Bằng cấp
từ Diplôme, Brevet (như bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp sau này) hay tốt nghiệp đại
học, hồi xa xưa đó, quá qúy hiếm đối với những chàng trai ở tỉnh lẽ và các vùng
quê mùa khỉ ho cò gáy.
Bỗng dưng, ông giáo trẻ nổi
hứng, cảm thấy các bạn học cùng lớp có đứa còn học kém hơn minh, nay họ có bằng
tú tài 2, niên học tới sẽ vào đại học mà học MG cơ, nghĩa là học về toán đại
cương. Môn học toán thời thượng lúc đó rất ít người theo học được đến nơi đến
chốn, còn các môn học về ngành Y không phải dễ thi vào, nhưng sau 1 năm dự bị,
sinh viên chỉ chiu siêng năng, chăm chỉ, qua 6 năm chính thức ra trường cũng
không phải là điều khó.
Hồi còn trai trẻ, sức khỏe
sung mãn, tuổi vừa qua đôi mươi, với dáng vóc của người huấn luyện viên về thể
dục thể thao, ngoại hình của Hừng cũng dễ coi, bô trai là đàng khác.
Lần đầu tiên trong cuộc đời,
Hừng bị đôi mắt bồ câu đen láy và làn da trắng hồng mịn màng cùng với đôi môi
mọng đỏ của một cô gái ở vào tuổi xuân thì, sanh quán ở Tầm Vu, như là thỏi nam
châm có sức thu hút mãnh liệt làm ngất ngây tâm hồn. Những người con gái có gốc
gác của cái xứ Tầm Vu mà Hừng từng nghe nhiều thằng con trai ở các nơi khác như
Thủ Thừa của tỉnh Long An chọc ghẹo, có lẽ mấy anh chàng này thất tình, đau
điếng như bị ngựa đá hay mấy cô thôn nữ đẹp mặn mà quá của xứ Tầm Vu cho leo
cây nên tức cảnh sanh tình, sáng tác một câu ca dao miệt thị những người đẹp
cho đã tức. Câu ca dao ấy như thế này:
Con gái Tầm Vu, một xu ba
đứa,
Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa
xuống mua.
Các cô gái xứ Tầm Vu, nghe
qua tức cành hông, Câu ca dao ấy như cố tình đánh giá thấp, xem thường các cô
gái Tầm Vu.
Nhưng, Hừng có lần đi về quê
với một người bạn trai, quê ở Tầm Vu, đang cùng học ở Sài Gòn, có thâm tình với
chàng. Tình cờ, Hừng gặp hai thôn nữ của Tầm Vu, cô em đang làm việc tại một
ngân hàng ở Sài Gòn, còn người chị có chồng ở gần bến xe Tân An. Trong truyện
Kiều, cụ Nguyễn Du đã mô tả tài sắc của Thuý Kiều, Thúy Vân sao giống y chang
hai cô gốc thôn nữ ở Tầm Vu này:
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị,
em là Thúy Vân,
Mai cốt cách,
tuyết tinh thần,
Mỗi người mỗi vẽ
mười phân vẹn mười .
Với cô em, Hừng nhận
thấy cụ Nguyễn Du tả nhân vật Thúy Vân, sao mà giống với cái nhìn đầu tiên của
chàng khi bắt gặp nàng đang cùng người chị vén ống quần lên lội qua chỗ nước lên
cao ngập bờ ruộng:
Vân xem trang
trong khác vời,
Khuôn trăng đầy
đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc
thốt, đoan trang,
Mây thua nước tóc,
tuyết nhường màu da.
Còn cô chị, với tuổi
vừa qua hai mươi, lại gái « một con trông mòn con mắt ». Như cụ
Nguyễn Du miêu tả :
Kiều càng sắc sảo
mặn mà,
So bề tài sắc lại
là phần hơn.
Làn thu thủy, nét
xuân sơn,
Hoa ghen thua
thắm, liễu hờn kém xanh…
Hừng có cảm nhận,
nước da trắng hồng, mịn màng của đôi chân người phụ nữ quả có sức cám dỗ thu
hút mãnh liệt làm cho con tim của chàng trai trẻ xao xuyến. Với cái nhìn thiện
cảm và chính chắn về người thôn nữ Tầm Vu mà mấy thằng con trai mắc dịch, hận
tình nói bừa một đồng xu ba đứa, thật sai bét so với thực cảnh mà Hừng đã thấy
trước mắt mình. Cặp mắt cận với cái kính trắng khá dày, Hừng cố điều chỉnh tầm
nhìn quan sát tổng thể thân hình của cô thôn nữ như bị sắc đẹp của nàng thôi
miên, trong lòng chàng thấy như có dòng máu ấm chảy về tim làm toàn thân rung
động, cảm khoái dâng tràn.
Từ đó, cái xứ Tầm Vu
cám dỗ kêu gọi chàng, hễ mỗi lần có cơ hội, Hừng thường rủ bạn mình là Út, một
ông chú trẻ của cô gái Tâm Vu về thăm gia đình của bạn. Má của Út và hai bà chị
luôn khuyến khích Hừng tiến tới làm quen cũng như hai chị tình nguyện làm mai
mối để hai bên gia đình hiểu biết nhau, sẽ kết thành thông gia. Cái gì tới rồi
cũng phải tới, Út thường nói như vậy.
Một ngày chủ nhựt đẹp
trời, sau Tết năm 1958, từ Sài Gòn, Hừng cùng bè bạn và bà cụ thân sinh đáp xe
đò về Tân An và từ đó chuyển qua xe khác về cái xứ Tầm Vu ruộng lúa phì nhiêu
để làm lễ ra mắt. Hồi xưa, tục lệ cưới hỏi qua nhiều giai đoạn nhiêu khê, lần
gặp mặt, ra mắt chính thức đầu tiên của hai gia đình đàng trai, đàng gái mà
người ta thường gọi là bỏ hàng thưa như là xí phần. Từ đó hai đứa trẻ có nhiều
cơ hội chính thức, không sợ tiếng dị nghị, đàm tiếu của bà con, láng giềng, tìm
hiểu nhau thêm. Sau này, nếu có duyên có nợ mới tính tới lễ hỏi và lễ cưới, do
hai bên gia đình bàn bạc, thỏa thuận, chọn ngày lành tháng tốt hoàn thành hỉ sự
cho hai đứa trẻ đã hiểu biết nhau và đã yêu nhau thực sự.
Chuyện thành vợ chồng
chính thức quả có duyên số như người xưa từng quan niệm. Khi về sống và làm
việc ở Sài gòn, người thôn nũ chân chất của cái xứ nông nghiệp cổ kính Tầm Vu,
nay chân đã bắt đầu sạch phèn. Nàng có thêm học thức, tiếp thu học hỏi văn minh
của đô thị nên không thể theo quan niệm cổ xưa của tổ tiên, cha mẹ đặt con đâu
ngồi đó trong việc kết hôn, lập gia đình. Theo tục lệ hôn nhân cổ hủ, người con
gái không thể cưỡng lại sự áp đặt của gia đình, cha mẹ quyết định tấm chồng cho
con gái với khuôn phép áo không mặc qua khỏi đầu của thời quá khứ. Nghĩa là, con
cái, nhất là con gái không có quyền từ chối, phản đối việc hôn nhân do gia đình
chọn sẵn. Cái qúy của con người là hai chữ tự do, tự do chọn lựa kết hôn đã bị
thời phong kiến đó tước đoạt, gây ra biết bao cảnh tượng đau buồn tuyệt vọng
làm dở dang nhiều mối tình đẹp tuyệt vời.
Với cái tuổi gần đôi
mươi, phơi phới, dù không kiêu kỳ, đẹp lộng lẫy nghiêng nước nghiêng thành,
nhưng, với cặp mắt bồ câu đen láy ấy cùng với làn da trắng hồng mịn, thân hình
cân đối, chắc chắn đã làm cho nhiều chàng trai chạy theo bén gót. Nàng đang đi
làm việc tại một ngân hàng dù với một chức danh tầm thường, nhưng cũng là một
cô gái có công ăn việc làm vững chắc, bảo đảm cho cuộc sống tương lai. Cô nàng
lại được ở hẵn trong một phòng sát cạnh chỗ làm việc hàng ngày do ngân hàng ưu
ái dành cho. Đó cũng là một hãnh diện của một cô gái gốc gác nhà quê, nay có
dịp chen vai với đời tại một đô thị nhộn nhịp nhất của cả nước mà có một chỗ ở
đàng hoàng, độc lập không phải dễ tìm.
Thời gian thấm thoát,
mới đó mà đã gần hết một năm, Hừng đang miệt mài đi dạy học kèm ở tư gia và cố
gắng đi học lớp tam nhị của chương trình Việt , thay cho chương trình học bằng
Pháp ngữ trước năm 1954. Với quyết tâm chàng phải lấy cho được bằng tú tài dù
gian khổ thế nào cũng phải chấp nhận. Gương chịu đựng và sự kiên nhẫn phi
thường của một chàng trai sau ba năm đã đi dạy tiểu học từ lớp ba đến lớp nhứt cũng
như đã tốt nghiệp huấn luỵện viên Khóa Thanh Huấn đầu tiên do Bộ Quốc Gia Giáo
Dục tổ chức vào mùa hè năm 1955 tại Nha Trang. Hai mùa hè kế tiếp, chàng được
cử đại diện cho một tỉnh làm huấn luyện viên thể dục thể thao của trại hè học
sinh toàn quốc tại Vũng Tàu. Đó quả là một danh dự cho một ông giáo rất trẻ tại
một tỉnh lẻ xa xôi. Cuộc sống của một công chức, đúng hơn là một ông giáo cấp
tiểu học, dù lương ít, nhưng, chàng được hưởng nhiều đặc ân ưu ái của nghề gõ
đầu trẻ dành cho một người con trai mới vào đời và cũng chưa biết yêu nồng thắm
là gì. Nếu tiếp tục cuộc sống phẳng lặng tại một trường tiểu học ở một tỉnh lẽ
và mỗi mùa hè được cử làm huấn luyện viên thể dục thể thao trại hè học sinh
toàn quốc mà biết bao cô thầy giáo cùng trang lứa ao uớc.
Chuyện một ông giáo
trẻ, nổi hứng bất tử, từ một cuộc sống đang êm đềm trôi và đang lên hương với
bao sự giới thiệu, mai mối của nhiều ngưòi lớn tuổi quý mến Hừng muốn chàng có
vợ đẹp, gia đình bên vợ cũng thuộc vào giới đại điền chủ hay công chức khá
giả…Nhưng, không hiểu tại sao Hừng chẳng màng đến việc lấy vợ hay có người yêu
để giữ chặt chàng vào cái nghề cao quý ở tỉnh lẻ này và bảo đảm cuộc sống tương
lai. Cuộc đời của chàng, bỗng dưng thay đổi 180 độ.
Lên Thủ Đô Sài Gòn,
vốn liếng của Hừng vỏn vẹn mang theo gần trọn tháng lương, trên dưới hai ngàn,
một chiếc Mobylette cũ mà chàng đã mua ba năm trước để làm phương tiện đi dạy
học và một túi xách, chừng năm ba bộ đồ mới nhất của một ông giáo tỉnh lẻ.
Sự mạo hiểm của Hừng
từ giã ngôi trường tiểu học tỉnh lỵ để dấn thân vào «con đường gió bụi», chưa biết
tương lai sẽ ra sao ?
----------
Một buổi chiểu thứ
bảy có gió hây hây, những giề lục bình bồng bềnh trên dòng nước lặng lẽ trôi về
hướng Nhà Bè. Trên bờ sông Sài Gòn, gần cột cờ Thủ Ngữ, bến đò Thủ Thiêm ở bên
kia sông, tàu thuyền đò qua lại tấp nập như mọi ngày. Hừng có hẹn với người đẹp
Tầm Vu, gặp nhau để tâm tình và bàn bạc về tương lai của mối tình mà Hừng có
linh tính con đường tình mà anh mơ ước sẽ có hoa trái tốt tươi, chỉ là con đường
tình một chiểu.
Đúng như lời nói của
người bạn học, chú của người đẹp Tầm Vu, cái gì đến phải đến và chiều thứ bảy
của tháng tư hay tháng 5 năm 1958 vì là Hừng chuẩn bị dự thi Tú Tài 1 nên muốn
biết mình có đậu vòng sơ tuyển do người đẹp làm chánh chủ khảo hay không để chàng
còn tâm trí tiếp tục cuộc thi cho tương lai sự nghiệp sắp tới.
Sau những câu xã giao
chào hỏi của một đôi trai gái với những lời nói ngọt ngào thân thương, Hừng
mạnh dạn đặt thẳng vấn đề tình cảm của Hừng đối với người đẹp mà Hừng muốn biết
rõ tâm tư của cô nàng có phải lòng với chàng?.
Sau khi ngồi yên lặng
trên một băng đá sát bờ sông, những giề lục bình, sao hôm nay lại có nhiều quá,
lượn vờn theo sóng nước trôi nhanh về một nơi nào đó mà trong đầu óc của Hừng
cảm thấy nơi ấy là nơi xa xăm vô tận mà chàng không còn bắt gặp lại nữa. Những
giề lục bình như có tâm hồn, chàng mơ tưởng, đang lượn theo dòng nước biếc sao
giống tương lai của chàng không biết trôi giạt về đâu?
Sau khi trao đổi vài
câu ngắn ngủi, dù cô nàng không từ chối hẵn mối tình mà Hừng đã trao và đặt tin
tưởng vào nàng, nhưng chàng có linh cảm là nàng mượn cớ huởn binh để từ chối
mối tình mà chàng đã hết lòng kỳ vọng.
Người đời nói quả
không sai, khi người ta sa và lậm vào tình yêu thường mù quáng, dù tình yêu đó có
một chiều hay hai chiều. Hừng bỗng nhớ đến một câu ca vọng cổ mà chàng từng
nghe những người lớn tuổi hơn chàng thường nghêu ngao khi đêm khuya thanh vắng
ở thôn dã :
Một khi đã lậm với
tình, dù phải yêu nhau trong những nỗi bất bình thì thử hỏi tâm hồn ta có biết
bao nhiêu điều trắc ẩn… ơ ơ ơ…
Nội dung câu ca vọng cổ muồi rệu tận mạng này đưa Hừng quay về thực tại.
Với cái tuổi thanh
xuân cùng với sắc đẹp thu hút phơi phới ưa nhìn của người đẹp Tầm Vu làm sao mà
không có tình yêu với ai đó hay hướng tới một chàng trai hào hoa, có địa vị
trong xã hội hay có bằng cấp này nọ mà nàng mơ ước ?. Còn đối với Hừng,
chẳng qua là do gia đình chọn lựa, giới thiệu với nàng, dù đối tượng, ngoại
hình trông cũng được, nhưng tương lai sự nghiệp chưa có, bằng tú tài mà chàng
đang vật lộn cũng rất khó khăn, yêu chàng quả nàng quá mù quáng như người cõi
trên chỉ nhắm mắt yêu càng.
Thực tế phũ phàng đó
chợt trở dậy trong đầu óc chàng. Cuộc hẹn hò tâm tình trở nên nhạt nhẽo, hai
người cùng im lặng quay nhìn xuống dòng sông nước vẫn chảy, lục bình vẫn trôi,
bên kia bờ sông, bến đò Thủ Thiêm và bên nây, bến đò Cột Cờ Thủ Ngữ vẫn nhộn
nhịp, nhưng đã đến lúc khách qua lại sẽ vơi dần. Cả hai người trẻ đang có cái
nhìn về hai hướng khác nhau, tương lai của mối tình đến hồi kết thúc trong êm
đẹp dù Hừng vẫn cảm nhận xót xa, trắc ẩn, nuối tiếc.
Đến nay đã hơn 50 năm
dĩ vãng của một thời mộng mơ đã vùi lắp quên lãng, vụt bùng dậy dữ dội và rồi
cũng tan biến nhanh theo thời gian, theo cuộc sống mới…
Sacramento tháng 5.08
Trần Văn