ÁNH LỬA ĐÊM KHUYA
Hoài
Phương
*
Trời hãy còn tiết xuân nhưng cái nắng trên lưng chừng núi Cấm ở độ cao bảy trăm
mét sao mà nóng bức như giữa trưa hè. Đoàn lữ hành chúng tôi ai nấy đều mồ hôi
nhễ nhại, vậy mà ở ngã ba đường lên Chùa Phật Lớn, giữa cái nắng chói chang lại
có một cụ mù lòa khoảng tám mươi tuổi ngồi xếp bằng trong tư thế bất động, hai
tay chắp lại giống như một thiền sư đang nhập định.
Lâu lâu, một vài khách hành hương dừng lại, đa số là đàn bà, phụ nữ, họ ra vẻ
kính cẩn, vái chào rồi nhẹ nhàng nhét vào túi áo ông chút ít tiền hoặc đổ vào
bị ông vài ba lon gạo.
Ông
tỏ vẻ cám ơn và chúc phúc mọi người. Ông còn nói thêm : “Tích đức phùng đức,
tích thiện phùng thiện”. Dân địa phương gọi ông là ông già Thiên Tuế vì ông đã
có mặt tại đồi Thiên Tuế nầy từ lúc Núi Cấm hãy còn hoang sơn vắng vẻ. Ông sống
như một dũng sĩ rừng xanh, ngày ngày đốn củi, săn bắn, làm rẫy, thỉnh thoảng
mang sản vật núi rừng xuống chợ đổi lấy gạo, vải, thực phẩm …Cả đời ông không
có vợ con, ông sống một mình giữa cái thế giới màu xanh quyến rũ nầy gần trọn
một kiếp người, người bạn thân thiết giúp ông liên hệ được với cái thế giới bên
ngoài là chiếc Radio cũ mèm của ai đó tặng cho ông. Ngày nay, nhắc lại những
tên đất, tên làng, chùa miễu, cây cối, thú rừng . . .ông đều thuộc lòng danh
dách. Ông tự hào coi mình là chứng nhân của một giai đoạn lịch sử – lịch sử
khai phá và kiến tạo các khu du lịch. Hằng ngày ông thường tiếp xúc với khách
thập phương và nghe nhiều câu kinh tiếng kệ nên cũng thấm nhuần những lời Phật
dạy như :“lẽ vô thường”, “trần ai khổ lụy”, “Phật tại tâm”,…
Năm
1975, ông vẫn còn đủ sức khỏe để kiếm sống qua ngày, còn dẫn khách đi tham quan
các khu di tích, thắng cảnh, hang động, chùa miễu, am cốc khắp đó đây. Năm
tháng trôi qua, cái già bước tới, đôi chân phiêu bạt của ông đã dần dần khép
lại.
Mắt
ông mờ, chân ông mỏi từ những năm 90. Chỗ ở của ông hiện nay là một túp lều đơn
sơ, trống huơ trống hoác, nằm khép mình trong một hang động tối om, cạnh có bài
vị thờ thần Hổ mà trước đây ngày nào cũng có người lui tới cúng kiến. Từ khi
mắt bị mờ, mặc dù chưa mù hẳn nhưng ông cũng không lo được nhang đèn, cúng quải
nên từ từ vắng khách, buộc ông phải xin ăn qua ngày.
Cuộc
sống âm thầm, lặng lẽ của ông tưởng đâu sẽ kéo dài cho tới lúc hơi tàn, lực
tận, ai ngờ đâu vào một buổi chiều mưa rơi rả rích, có một người lầm lũi bước
vào nhà ông xin tá túc qua đêm. Tuy không nhìn thấy rõ nhưng ông đã cảm nhận
đây là một người phụ nữ trạc bốn mươi, áo quần ướt sũng đang run rẩy đứng nép
mình tránh mưa bên chiếc chòi xiêu vẹo của mình.
-Cô ở đâu đến đây? Thôi vào trong đốt lửa lên cho đỡ lạnh!
-Dạ, cám ơn ông, không sao.
-Cô đói bụng không ? Vào bếp kiếm gì ăn rồi lát nữa ăn cơm với tôi.
-Thưa ông, ông ở đây với ai ? Mắt ông mờ, ông sống ra sao ?
-Ôi ! hơi đâu mà hỏi. “ Tử sinh hữu mệnh, phú quý do thiên”
Tối đến, ông nhường chiếc giường ọp ẹp cho người đàn bà xa lạ ấy, còn ông thì
trải chiếc chiếu ở gần chỗ bếp để nằm. Lúc đầu chị cảm thấy áy náy nhưng cuối
cùng cũng phải nghe theo.
Lẽ
ra, chị phải từ tạ ra đi vào sáng hôm sau, nhưng trước tấm lòng nhân hậu và
thái độ ân cần của ông già, chị muốn ở lại vài hôm để giúp ông ta dọn dẹp, sắp
xếp nhà cửa cho gọn gàng.
Lúc
chị từ giã, ông cảm thấy buồn và có ý khuyên chị nên ở lại ít hôm nhưng chị đã
tìm cách từ chối khéo.
Thật
ra, trong lòng chị đã ngổn ngang trăm mối tơ vò, chị không còn thiết nghĩ gì
đến cái sống và cái chết. Cuộc đời nghiệt ngã mười mấy năm qua đã làm chị tự
xót thương cho số phận hẩm hiu của mình. Từ một thôn nữ nghèo nàn, bị chồng phụ
bạc, chị buồn bã ra thành làm công cho một cửa hàng ăn uống. Thời gian qua mau
nhưng nỗi buồn vẫn đọng lại với tháng năm. Chị hận đời, chị cô đơn và tuyệt
vọng, nhưng những khát vọng về tình yêu, về hạnh phúc lứa đôi, đôi lúc cũng bộc
phát và bùng cháy dữ dội trong tim người phụ nữ xấp xỉ tứ tuần…
“Cũng
liều nhắm mắt đưa chân”, chị lại ngã vào vòng tay yêu thương của một người đàn
ông để cố níu chút hạnh phúc mong manh, nhưng chừng hối tiếc đã muộn . Vợ anh
ta đã thưởng cho chị một trận đòn chí tử, mặt chị lại một lần nữa bị bôi tro
trát trấu, không dám ló mặt ra ngoài, cho đến nữa đêm hôm ấy, chị mới lén xách
gói ra đi tìm đến những nơi xa vắng để cố quên đi một dĩ vãng đau buồn, nhưng
nào có được. Cổng chùa không chịu mở rộng để đón nhận những tâm hồn còn nặng
nghiệp chướng như chị. Chị tiếp tục theo chân những người hành hương tiến về
núi Cấm với hy vọng khuây khỏa được nỗi buồn và lánh mặt một thời gian. Ai ngờ,
trên bước đường lang thang phiêu bạt, chị lại phát hiện ra mình đã có thai. Chị
thảng thốt kêu lên những tiếng kêu buồn thảm, nhưng tất cả những lời thở than
ấy như rơi vào khoảng không vắng lặng.
Không
thể quay về Cần Thơ, càng không thể trở lại cái quê nghèo ở cuối dòng sông Ba
Láng, chị cứ lủi thủi một mình trong mưa gió và trời xui đất khiến, chị mới gặp
được ông già mù hôm nọ…
***
Nỗi lòng biết ngõ cùng ai! Mỗi lần muốn kết liễu đời mình, chị lại nhớ đến mẹ
già còn đang mong đợi ở nhà, thôi thì quay lại tìm ông già kia để nương tựa ít
lâu. Trong cơn hoạn nạn, ít ra mái tranh nghèo đó cũng giúp chị đỡ đói rét một
vài hôm…
-
Ai đó ? Nghe tiếng chân rón rén trên nền cát sỏi, ông già mù đoán ngay là tiếng
chân của chị – Dạ, cháu đây ! – Thôi ở đây với ông, đừng đi đâu cả, còn gói mì
kia, ăn đi cho đỡ đói.
Chị
không dám nói hết sự thật trong lúc nầy. Ngày ngày chị vẫn chặt củi, nấu cơm,
lấy nước và sớm chiều dắt ông ra ngã ba đường cái để xin của bố thí. Ông già
rất mừng, ông giao hết tiền bạc, gạo, bánh cho chị quản lý, ông coi chị như con
gái của mình. Cái bụng của chị càng ngày càng to lên, chị cảm thấy bắt đầu mệt
mỏi. Chị muốn rời khỏi chỗ nầy nhưng biết đi đâu bây giờ ?
Thế
rồi một buổi chiều mây đen xám xịt, cơn mưa cuối mùa như muốn xả hết nước, ông
giục chị hãy đem tất cả những vật dụng trong nhà ra hứng nước để giành. Khi hạt
mưa vừa chấm dứt cũng là lúc đứa nhỏ trong bụng chị bắt đầu chuyển động . Biết
không thể giấu diếm được nữa, chị vội cất giọng :
- Ông ơi ! Ông ! Cháu…Cháu…
- Sao Tư ? Bây có sao không ? Nói mau !
Cái gì !
-Dạ…dạ…cháu sắp sanh con ! – Trời ! Bây có thai hồi nào ? Sao bây giờ mới nói !
Biết làm sao đây !
Cơn
đau càng lúc càng tăng, chị quằn quại dưới chân giường, chị ôm lấy chân ông làm
ông hoảng hốt.
Chẳng
nói chẳng rằng, ông vào trong lôi hết đống củi khô và tất cả những thùng giấy
ra giữa sân chất đốt. Ngọn lửa ngất trời…
Chỉ
chốc lát, mấy anh thanh niên bảo hộ lâm trường đã hớt hải chạy tới… Thì ra
không phải cháy rừng mà là ánh lửa cấp báo có người sắp đẻ.
Trong
lúc mọi người đang bối rối, kẻ đốt đèn, người đỡ chị lên giường thì một người
trong bọn họ vội vã phóng như bay vào trong đêm tối…Độ nửa tiếng đồng hồ sau,
anh ta đã dẫn tới một bà già và hai cô gái. Họ đã giúp chị vượt qua cơn sóng
gió và “Mẹ tròn con vuông”.
Sau
đêm hôm đó, thiên hạ đã đồn rùm ben về mối quan hệ tình cảm giữa lão mù và
người đàn bà xa lạ đó !
Mặc dù tiếng đời thị phi nhưng tiếng
khóc chào đời của đứa bé giữa đêm hôm khuya khoắc đã phá tan sự im lặng của núi
rừng, làm khơi dậy những tấm lòng nhân ái và chính trong khoảnh khắc thánh
thiện đó, tiếng khóc của đứa bé đã vang lên, bay xa và quyện vào cái bao la của
trời đất, thắp sáng cho một tâm hồn, đưa người đàn bà bất hạnh ấy trở về với
thực tại, với tình mẫu tử thiêng liêng .
Hoài Phương
Đỉa
chỉ : Huỳnh Văn Nguyệt
Nhà
số : 35/60 Phạm Ngũ Lão
Thành
phố Cần Thơ
ĐT:
0919.865919