Hồi ức phà Cần Thơ
Cát Tường/Người Việt

Một chiếc
phà qua sông, phía xa là cầu Cần Thơ đang xây. (Hình: Cát Tường/Người Việt)
Ngày 24
tháng 4 năm 2010, cầu Cần Thơ chính thức khánh thành, đưa vào hoạt động chiếc
cầu dây văng có quy mô lớn gấp 3 lần cầu Mỹ Thuận nối sông Tiền (tỉnh Tiền
Giang) với sông Hậu (tỉnh Vĩnh Long). Cầu được khởi công xây dựng ngày 25 tháng
9 năm 2004, dự kiến khánh thành ngày 14 tháng 12 năm 2008, tuy nhiên sáng sớm
ngày 26 tháng 9 năm 2007 đã xảy ra tai nạn nghiêm trọng: Hai nhịp dẫn tại Mỹ
Hòa (Bình Minh, Vĩnh Long) cao khoảng 30m giữa 3 trụ cầu đang được xây dựng bị
sập, kéo theo giàn giáo cùng nhiều công nhân, kỹ sư đang làm việc xuống đất,
làm chết ít nhất 53 người và bị thương hơn 100 người. Cầu ngừng thi công cả năm
mới tiếp tục tiến hành.
Cầu Cần
Thơ khánh thành có nhịp chính dài nhất Ðông Nam Á, rộng 23.1m gồm 4 làn xe, 2
lề bộ hành (mỗi lề rộng 2.75m), xem như kết thúc chặng đường khoảng 100 năm
hoạt động “hoành tráng” của phà Cần Thơ - một bến phà được coi là lớn nhất Việt
Nam.
Phà Cần
Thơ trước kia còn được gọi là bến đò Cái Vồn, bến đò Hậu Giang, bến đò Cần Thơ,
sau năm 1975 có tên “Phà Hậu Giang” nhưng dân chúng thường gọi “Phà Cần Thơ”
hoặc “Bắc Cần Thơ”.
Ra đời
và hình dáng
“Năm
1915, toàn quyền Ðông Dương ra nghị định đắp lộ đá từ Sài Gòn - Rạch Giá - Cần
Thơ. Phà Cần Thơ ra đời năm 1918, giúp giao thông bộ miền Tây được thông
thương” (1). “Khoảng năm 1910, phà Mỹ Thuận hình thành. Năm 1914-1918, bến phà
Cần Thơ qua sông Hậu dài 1.840 mét được xây dựng. Có phà, lộ xe từ Cần Thơ đi
Sóc Trăng, Long Xuyên, Vĩnh Long cũng được đắp và dần dần chỉnh trang. Nhờ vậy,
đến năm 1925 tổng số đường bộ hàng tỉnh ở xứ đồng bằng này lên 20,000 cây số”
(2). Năm xây dựng cầu chỉ là ước đoán, vì: “Ông Phan Quang Dự, giám đốc xí
nghiệp phà Hậu Giang cho biết: ‘Tại đây không có thông tin lưu trữ về lịch sử
bến phà Hậu Giang. Do mỗi giám đốc về công tác chỉ năm ba năm rồi đi, nên đến
nay không ai ghi lịch sử bến phà. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu gần đây cho
biết, bến phà Hậu Giang có thể hình thành hoạt động chính thức từ năm 1918, lúc
đó có khoảng 2 chiếc phà, loại phà chở 1 đến 2 chiếc xe hơi qua sông cùng một
số khách bộ hành” (3). Một trong vài chiếc phà Cần Thơ đầu tiên được chụp hình
để lại nhưng rất mờ, được tác giả Phương Thảo tả theo cảm giác: “Phà được kết
nối bằng những trái nổi bằng kim loại lớn hơn thùng phuy và bè tre. Ðường xe
lên xuống bện bằng những dây có thể là tràm. Mui phà bện bằng lá trầm, trên phà
có một người đứng hướng dẫn. Phà chỉ chở có một chiếc xe bốn bánh, dân Nam Bộ
xưa gọi xe này là ‘mu rùa’” (4).
Vị trí,
hoạt động và cảnh quan
Theo
lời kể của Luật Sư Nguyễn Văn Khâm, 94 tuổi, thì “Thuở nhỏ, cụ thường qua phà
Cần Thơ. Hồi đó, bến phà bờ Vĩnh Long (bờ Bắc) đặt tại thị trấn Cái Vồn. Bến
phà phía Cần Thơ (bờ Nam) đầu tiên nằm gần Dinh Tỉnh Trưởng cũ rồi trở về vị
trí như ngày nay” (5). Ông Bùi Văn Tước (6), sinh năm 1921, năm nay gần 90
tuổi, quê ở thị trấn Cái Vồn - Bình Minh (Vĩnh Long) cho biết: “Bây giờ gọi là
phà Hậu Giang chớ hồi xưa ai cũng gọi là phà Cần Thơ. Năm tôi 10 tuổi có đi với
ba qua phà Cần Thơ, từ đó đến trưởng thành tôi có qua lại phà nhiều lần. Vào
những năm 1930 phà Cần Thơ qua lại có 2 chiếc thôi, loại phà nhỏ khoảng 10 tấn
đến 20 tấn, gọi là phà 10, phà 20. Phà nhỏ chạy bằng máy dầu, mỗi chuyến phà
qua chở 2 chiếc xe hơi với một số hành khách. Phà ghé lại xe muốn xuống phải
chờ quay ponton khớp với mỏ bàn phà. Ponton quay bằng sức người, sử dụng cho
đến năm 1950 vẫn còn. Quốc lộ thời đó xây dựng xong nhưng đường rộng khoảng
12m, xa xa mới có một chiếc xe đò hoặc xe ‘mu rùa’ chạy qua. Xe đò lục tỉnh mỗi
ngày có vài chuyến đi về. Người có xe đạp không nhiều, thời đó có xe gắn máy
nhưng rất hiếm, chỉ có đại gia, hoặc dân Tây mới có xe gắn máy” (7).
Hoạt
động dưới phà thời xưa đó được Sơn Nam kể: “Nhờ anh bạn giới thiệu sơ qua, ông
thợ máy dưới phà Cần Thơ - ông Bảy Ngân - đưa tôi xuống, khỏi mua vé, cứ ở dưới
phà mà ngắm cảnh, chiều về, hoặc ở tối cũng được, họ chỉ soát vé người xuống
phà chớ người đi lên thì tự do. Ðến bờ sông, ngay bến phà, tôi chú ý ngôi miếu
nhỏ, thờ Thủy Long. Người coi lái phà ngồi trên mui cao, ông Bảy thì xuống hầm
máy, chật chội, tối om, bóng đèn đỏ soi mờ mờ cũng một trang thờ nhỏ, ghi chữ
Thủy Long. Thời đại khoa học mà con người vẫn tin số phận may rủi, sợ tai nạn?
Ông Bảy Ngân giải thích từ hồi nào đã trông thấy bàn thờ, mình nên để vậy, ai
tin thì tin, nhưng riêng ông thì tin. Bảy năm trước, một lần nọ chiếc ghe to
chở củi đụng vào phà, đụng bên hông, phà suýt chìm, ban sang. Ông Bảy lắng tai
nghe tiếng kẻng hiệu lệnh do người tài công (hoa tiêu) trên nóc phà ban xuống.
Ðoạn sông Hậu này dài hơn 1km, ra gần giữa sông, phà chạy ngon trớn, êm đềm.
Ông Bảy vụt nắm tay cầm điều khiển, giảm tốc độ trước khi nghe hiệu lệnh, gần
vào bờ. Tôi lên bờ sông Hậu, phía Sài Gòn, thở phào vì mục đích của mình là qua
bên kia bờ. Hai bên là lộ xe, nhà cửa san sát, nhiều quán, tiệm bán trái cây
ngon, thêm cơm, cá kho tộ, canh chua. Ðất quá tốt, chuối mọc bên nhà xanh tươi,
mấy giàn khổ qua, bầu, mướp tươi tốt, nước dưới rạch dâng lên, không cao không
thấp, rõ ràng cây cỏ mạnh khỏe, không cần chăm sóc” (8). Ông Nguyễn Văn Kiếm,
85 tuổi, nhân viên phà Cần Thơ từ năm 1945, sau đó là tài công vào năm 1948,
kể: “Có phà rồi, năm 1929, Cần Thơ có hãng xe Trần Ðắc Nghĩa (theo Sơn Nam và
Huỳnh Minh là Trần Ðắt Nghĩa), Cao Văn Trạng, Vạn Lộc (Sáu Thanh), Ðại Ðồng và
nhiều hãng xe khác lần lượt ra đời.” Ông Kiếm, cho biết thêm: “Phà Cần Thơ vào
thập niên 1940 chỉ có 3 chiếc nhỏ, không mui, có một đầu, mỗi chiếc chở được
hai xe đò. Về sau mới có phà 10 tấn và 20 tấn, mỗi chiếc có 6 nhân viên gồm 2
tài công chính, phụ; 2 thủy thủ và 2 thợ máy. Mỗi ngày phà hoạt động từ 4 giờ
sáng đến 10 giờ đêm. Ông Nguyễn Văn Qui, nhân viên bán vé phà từ năm 1950 kể
rằng mỗi lần phà cặp bến, từng chiếc xe đổ xuống pông-tông rồi bốn nhân viên
mới dùng tay quay bàn cầu có hình chữ thập sao cho đúng vị trí bàn phà để xe de
xuống phà. Lúc cặp bến, xe chạy thẳng lên bờ khỏi phải quay đầu. Anh Lê Tấn
Phát, nhân viên phà cho biết khoảng năm 1955 thì bàn cầu trên ponton được cải
tiến, chỉ cần hai người quay” (...)“Ông Qui cho biết khoảng trước năm 1954, bến
phà chỉ tập trung ở phía Cần Thơ. Bên kia Bình Minh (nay thuộc Vĩnh Long) chỉ
là bãi lên xuống nên mỗi lần có xe đến, nhân viên kéo chiếc cần xé sơn màu
trắng lên cao làm tín hiệu cho phà phía Cần Thơ chạy qua đón. Mỗi chuyến qua
lại mất 30-40 phút. Dòng sông Hậu lúc bấy giờ lục bình rất nhiều và trôi thành
dề, bần mọc dầy đặc hai bên bờ, nhiều lúc sương mờ cả khúc sông khiến tài công
dễ bị lạc hướng nhứt là về đêm” (...)“Thời ấy, xe cộ, hành khách thưa thớt nên
trâu bò cũng được qua bắc...” (9)

Ông
Nguyễn Văn Kiến. (Hình: Cát Tường/Người Việt)
Ông
Nguyễn Văn Kiến (77 tuổi, đường 30-4, TP. Cần Thơ), cho biết quá trình hoạt
động Bắc Cần Thơ của mình: Năm 1956, ông vào làm thủy thủ rồi đi Sài Gòn học
trong vòng 2 tháng lấy bằng thuyền trưởng tàu sông hạng 2 (hạng 1 là tàu biển)
và làm thuyền trưởng vào năm 1957, lái chiếc phà 25 tấn. Bấy giờ Phà Cần Thơ có
3 chiếc trọng tải như vậy, về sau, không nhớ năm nào, mới có thêm chiếc trọng
tải 100 tấn. Phà 25 tấn chạy 2 tay số, 2 tay ga. Phà hoạt động từ 4 giờ sáng
tới 11 giờ đêm. Tài công (thuyền trưởng) và thủy thủ ca làm ca nghỉ. Hành khách
qua phà 50 xu/vé. Kỷ niệm đáng nhớ nhất với ông Kiến là khi đó ponton phà hình
chữ thập. Xe xuống chữ thập, thợ máy và thủy thủ xúm nhau quay cho đầu xe khớp
với đường dẫn. Nhiều lúc mệt quá, công nhân phải kê lưng vào cạnh ponton lấy
sức xoay... Hồi đó có 3 chiếc phà 25 tấn chỉ có 1 đầu (một mỏ bàn nên khi xe
lên phà dễ và khi xuống ponton phải “de”). Về sau mới có mấy chiếc phà 25 tấn 2
đầu, thuận lợi cho xe lên xuống. Ông Kiến nhớ nhất là trận bão năm Thìn (1964),
để tránh bão, phà phải chạy vô Chợ Bà (Bà là vợ Năm Lửa), nếu không sẽ bị sóng
lớn đánh chìm. Nhắc kỷ niệm, ông Kiến nói lương chính tuy ít nhưng nhờ có lương
vợ và lương con, vợ buôn bán kiếm thêm nên dư sống.

Hàng
quán bờ Cái Vồn Thượng. (Hình: Cát Tường/Người Việt)
Di dời
và nâng cấp
“Thuở
đó, con đường từ phà đi vào nội ô Cần Thơ, phía tay trái có con rạch nhỏ (còn
gọi là sông) chạy dài tới trước chợ Cái Khế rồi rẽ trái nối với rạch Khai Luông
ăn ra sông Hậu. Có lúc bến Bắc dời về rạch Khai Luông, nơi có con đường (một
bên hông Dinh Tỉnh Trưởng một bên là trại Thiết Giáp) đâm ra đường Nguyễn
Trãi”, ông Nguyễn Tấn Vĩnh (75 tuổi, Long Tuyền, Bình Thủy, Cần Thơ) nhớ lại
nhưng không biết năm nào. “Bắc Cần Thơ dời về Bungalow (nay là nhà hàng Ninh
Kiều ở Bến Ninh Kiều, đường Hai Bà Trưng, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ) vào năm
1957, thời sếp Ba Lài, nhằm mở rộng đường”, ông Kiến “chỉnh” lại. “Con đường
mang tên Thủ Khoa Nghĩa nối liền từ cầu Sáu Thanh đến phà Cần Thơ xưa kia rất
hẹp, hai bên là những hàng sao cao vút với

Ông
Nguyễn Tấn Vĩnh. (Hình: Cát Tường/Người Việt)
những
dãy nhà sàn lụp sụp cất dọc theo hai bên bờ sông mọc toàn bần, lác và lục bình
(10). “Trên phần đất bên trong con đường Thủ Khoa Nghĩa, gần chợ Cái Khế, có
ngôi nhà của Sáu Thanh - một tay anh chị ‘đứng bến’ (bến xe Cần Thơ) nổi tiếng
một thời. Trước nhà có chiếc cầu bắc qua rạch nối liền đường mà người ta gọi là
cầu Sáu Thanh” (11).

Nhà
Sáu Thanh. (Hình: Cát Tường/Người Việt)
Ông
Huỳnh Minh, tác giả “Cần Thơ Xưa Và Nay” (Cánh Bằng, Sài Gòn, 1966) viết:
“Khoảng giữa đường từ bến ‘bắc’ Cần Thơ vào bến xe mới ngày nay, mấy năm trước
hãy còn một cây cầu mang tên là cầu Sáu Thanh. Vì khoảng đất nơi bến ‘Bắc’ là
nơi biệt thự của Sáu Thanh. Cầu Sáu Thanh nay dỡ bỏ, khoảng rạch lấp bằng biến
thành con đường rộng thênh thang, cũng như tên tuổi Sáu Thanh cơ hồ như đã vùi
trong quên lãng của người đời sau khi thời oanh liệt cáo chung”. Ông viết thêm:
“Lấp bỏ cây cầu đi, thật là vô cùng tiện lợi. Chớ còn ngày trước, cầu đã hẹp
lại yếu, phải có người tức trực xoay trở tấm bảng trắng, đỏ, để báo hiệu cho xe
cộ qua cầu phải dè dặt trong sự lưu thông một chiều”. Nhà Sáu Thanh thời chính
phủ VNCH dùng làm Khu Tạo Tác Công Binh. Hiện nay, người ta đã cho thổi cát lấp
hết mấy chân nhà đúc cao, còn phần khuôn viên rộng lớn của nhà (biệt thự) Sáu
Thanh chẳng biết số phận sẽ ra sao!
“Phà
Cần Thơ đến năm 1960-1975 bắt đầu cải tiến nhiều, lý do quan trọng, giai đoạn
này Mỹ mở rộng chiến tranh, đẩy mạnh giao thông, nâng cấp phà phục vụ chiến
tranh và phục vụ nhu cầu đi lại của người dân. Bến phà xây dựng mới hiện đại,
trang bị ponton nổi xe chạy thẳng xuống, phà ghé, xe chạy thẳng lên không phải
khó khăn như thời ponton quay.

“Tây
ba-lô” qua phà. (Hình: Cát Tường/Người Việt)
Phà Cần
Thơ giai đoạn này được trang bị phà 100 và có cả chiếc phà 200 tấn, tất cả gần
10 phà. Tuy vậy, từ năm 1975 đến 1995 phần lớn số phà này xuống cấp, máy móc
già cỗi, chạy vượt sông rất chậm, mỗi chuyến phà vượt sông mất từ 30 đến 45
phút. Năm 1996, Ðan Mạch viện trợ cho Việt Nam 16 triệu USD để hỗ trợ việc đóng
mới hai phà Việt Ðan 200 tấn/chiếc và nâng cấp những chiếc phà 200 tấn hiện
đại, quy cách thiết kế đẹp, máy phà mạnh, chở mỗi chuyến từ 10 đến 15 xe các
loại. Nếu chạy tốc độ để vượt sông, Việt Ðan 200 có thể vượt sông trong 5 phút
(?-CT). Ðến sau năm 2000, Ðan Mạch lại viện trợ thêm 10 triệu USD, lần này viện
trợ để nâng cấp một số phà ở bến phà Hậu Giang, bến phà Cái Tư, bến phà Vàm
Cống...” (12).
Năm
1992, Phà Cần Thơ chạy xuyên suốt 24/24 giờ, không còn chạy ca từ 3 giờ khuya
hôm trước tới 12 giờ khuya hôm sau, là phần nào niềm vui nỗi mừng cho trên 16
triệu dân ÐBSCL. Còn bây giờ thì khỏe lắm!
Chú thích:
1, 11:
Hoài Phương, “Từ Cầu Sáu Thanh Ðến Phà Cần Thơ”.
2. “Ðịa
Chí Cần Thơ”, 2002.
3, 4,
12: Phương Thảo, “Phà Hậu Giang Sẽ Kết Thúc Lịch Sử Trăm Năm”, Ðặc San Huyện
Bình Minh Xuân Canh Dần 2010.
5, 7,
9, 10: Hoài Phương, “Mai Này Ai Nhắc Bến Ðò Xưa”, Giai Phẩm Ðất Chín Rồng Xuân
Canh Dần 2010.
6: Ông
Bùi Văn Tước (Cái Vồn, Bình Minh) là người được xem có cây bưởi Năm Roi “tổ”.
8: Sơn Nam, “Từ U Minh Ðến Cần Thơ”, NXB Trẻ, 2001. Năm 1948, 12
tuổi ông nhập học lớp đệ thất Collège de Cantho.
Nguồn: .nguoi-viet.com