CUỘC BẠO ĐỘNG CỦA ÔNG
ĐẠO TƯỞNG Ở TÂN CHÂU
HỨA
HOÀNH
Lts: Hứa Hòanh là nhà biên khảo, đặc
biệt về lịch sử “Nam
Kỳ Lục Tỉnh”. Sách của Ông thuộc loại best sellers. Trong số THÂN HỮU trước đây,
Ông đã đóng góp cho đặc san chúng ta một bài rất thú vị về Thất Sơn và hứa sẽ
dành cho TH số tớI bài mớI nhất . Cách đây không lâu Ông đột ngột từ giã cõi đời.
Bài sau đây được trích trong quyển Những Phú Hộ Lừng Danh Nam Kỳ của Ông
như là một tưởng niệm …
….Hồi còn ở quê nhà, chúnh
tôi có dịp lên xuống núi Sam, Châu Đốc, Tân Châu nhiều lần. Những lần đó, chúng
tôi hoặc đi đám giỗ, đám cưới, hoặc những ngày vía Bà Chúa Xứ núi Sam….. Trong
những buổI tiệc tùng thức khuya ấy, tôi được hầu chuyện cùng các vị cao niên ở địa
phương. Bên chén rượu hoặc chung trà, các cụ vuốt chòm râu bạc, hứng thú kể
chuyện ngày xưa…. Ngoài những chuyện thời sự như kháng chiến chống Pháp ở Nam Kỳ,
Nhựt đảo chánh 9-3-1945, tôi thường được nghe họ nhắc đến một vụ bạo động có tính cách địa phương: Đó là vụ án
“Ông Đạo Trưởng” mà ngườI ở đây kính cẩn gọI ông ta bằng Thầy…
Không hiểu có phải do hoàn cảnh phát sinh
hay không mà nửa thế kỷ trước, vùng Thất Sơn, Châu Đốc, Long Xuyên… có rất nhiều
ông Đạo? Chỉ khác thường một chút, được gọi là “Ông Đạo”. MỗI một ông Đạo tự
tìm cho mình một lối sống riêng: ngườI ở chùa, kẻ cất am, ngườI đi lang thang
trị bịnh bằng nước lã, có người ngụ tại gia…như ông Đạo Nằm, ông Đạo Gò MốI,
ông Đạo Chó, ông Đạo Câm, ông Đạo Ớt…Học giả Nguyễn Hiến Lê, ngườI sống nhiều năm
ở Long Xuyên, Hồng Ngự có nhận xét sau:
“Không một tổng nào trong 5, 10 năm mà không
nảy ra một ông Đạo. Hơi khác đời một chút như cao quá, thấp quá, mập quá, gầy
quá, hay có hành vi lạ lùng…tức là thành Đạo rồi. Chẳng hạn có ông Đạo Cao, cao
trên hai mét, đi tới đâu trẻ con cũng bu lại ngó. Có Ông Đạo Nằm, nằm suốt
ngày, suốt năm. Ăn uống cũng nằm, tiếp khách cũng nằm. Có ông Đạo Câm, ông
không câm thật đâu, mà không bao giờ mở miệng nói. Cha mẹ hỏI, trả lời. Ai trêu
tức, làm thinh. Lại có ông Đạo đi rất chậm, khoan thai từng bước một và cứ đúng
3 bước lại ngừng lại một chút, nhưng có lần bị chủ quận sai lính quất, Đạo ta
chạy te te và mất chức Đạo từ đó!”
Trường hợp ông Đạo Tưởng Tân Châu thì nhiều
ngườI hiểu theo nghĩa khác. Theo cụ An Khê, “Đạo Tưởng là một hệ phái của Bửu Sơn
Kỳ Hương. Đạo nầy cũng dạy ăn ở hiền lành, đạo đức và tin ở phần hồn nhiều hơn.
Đạo Tưởng có 10 ngàn tín đồ (?) tập trung ở Tân Châu, Châu Đốc, vùng Thất Sơn…
Và cả ở đảo Phú Quốc nữa.” Trước đây tôi cũng có đọc một bào báo đăng trên tuần
báo Tuổi Trẻ nói về Ông Đạo Tưởng, do một nhà văn CS viết. Dưới cái nhìn CS, cuộc
bạo động của Ông Đạo Tưởng và tín đồ là “đấu tranh giai cấp”, kèm theo lòng căm
thù, chống thực dân Pháp.
Tổng hợp các tài liệu vừa kể, chúng tôi cố
tìm hiểu cuộc bạo động “đúng như nó đã xảy ra” với mọi khía cạnh tốt xấu của
nó. Mục đích của chúng tôi chỉ làm sống lại một sự kiện đã
qua, được nhiều ngườI biết, bàn tán lâu dài để mua vui độc giả vài giây phút
nhàn rỗi.
“Đạo Tưởng”, Ông là ai?
Theo tài liệu trong quyển TÂN CHÂU của tác
giả Nguyễn Văn Kiềm thì Ông Đạo Trưởng có thế danh Lâm Văn Quốc, ngườI quen thường
gọi Ba Quốc, sinh quán tạI Cái Cùng, làng Long Điền, quận Giá Rai, tỉnh Bạc
Liêu.
Quốc có 2 em trai: Lâm Văn Út và Lâm Văn Bửu.
Cả hai đều được phong chức và can dự vào cuộc bạo động năm 1939. Xuất thân từ một
gia đình nông dân nghèo, kém may mắn không được đi học dù là cấp tiểu học, nhưng
Quốc thông minh, khỏe mạnh và có óc giang hồ. Giao du với các tay hảo hớn, các
nhà sư Miên, Quốc học lóm được nhiều thế võ hộ thân. Lại được các tay anh chị
giang hồ dạy thêm, chẳng bao lâu Ba Quốc được dân chúng trong làng tôn làm “võ
sĩ” mặc dù anh chưa đăng đàn thi võ lần nào.
Quốc thích nghề đấm đá để tạo tên tuổI nhưng
Quốc chưa có hành động gì phi pháp, hoặc gây đau khổ cho ai. Có lẽ sự thành
công đôi chút về võ nghệ tạo cho Quốc nhiều ảo tưởng sau nầy. Được đàn anh đỡ đầu,
Quốc bỏ nhà đi giang hồ một thời. Những thập niên đầu thế kỷ này, những người
nào đã đi khắp lục tỉnh Nam Kỳ, được thiên hạ coi như từng trãi, già dặn kinh
nghiệm, lịch lãm:
Cây trên rừng hóa kiểng,
Cá ngoài biển hóa long,
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Đến đây trời khiến, đem lòng yêu em.
Hay:
Cần Thơ là cảnh
Cao Lãnh là quê,
Anh đi lục tỉnh bốn bề…
Kể từ đầu năm 1901, các truyện Tàu dịch ra
chữ quốc ngữ được dân chúng Nam Kỳ đón nhận nồng nhiệt. Trong một thờI gian
dài, nhiều ngườI chỉ cần đọc truyện Tàu mà có kiến thức sơ đẳng, có kinh nghiệm
giao tiếp và hiểu được thế nào là trung hiếu tiết nghĩa ở đời… Truyện Tầu còn
góp phần hình thành một phong cách riêng, một lốI suy nghĩ và hành động của mọi
từng lớp dân Nam
Kỳ…
Những nhân vật có hành động phi thường,
khác thường trong xã hộI thờI đó, đều do hoàn cảnh văn hóa, lịch sử đặc thù của
Nam Kỳ tạo nên. Ba Quốc sống trong môi trường đó, chịu ảnh hưởng hoàn cảnh và
thờI cuộc. Đó là chuyện dĩ nhiên.
Được đàn anh đỡ đầu, Quốc đi giang hồ lục
tỉnh một dạo. Có lúc Quốc lưu lạc qua Miên, Lào nữa. Những lần ngao du ấy, Quốc
học được phép “sình tả” tức học gồng của người Miên mà dao búa chém không đứt. Điều
đó nhiều người nghe Quốc kể lại, chớ chưa thấy tận mắt. Là nông dân, Quốc có
thân hình chắc nịch của một lực điền, vai u thịt bắp nổI cuồn cuộn. Có một điều
khác thường, mặc dầu dốt, nhưng Quốc có tài ăn nói thu hút nhiều ngườI nghe và
tin theo. Năng khiếu đó, sau nầy được Quốc ứng dụng để thuyết pháp. Tín đồ ùn
ùn theo “ Đạo Tưởng” và sẵn sàng tuân phục tuyệt đốI mệnh lệnh của “Thầy”.
Giữa năm 1925, giang hồ đã mỏi gối, Quốc
tìm đến sống ở Tân Châu với ngườI cậu là nhà văn kiêm dịch giả truyện Tàu Nguyễn
Chánh Sắt. Ông Sắt giao cho Quốc trông nom việc nhà và ruộng rẫy như một quản
gia. NgườI địa phương gọi Ba Quốc là “kẻ ở đợ” cho ông Nguyễn Chánh Sắt. Trong
hoàn cảnh sống mới nầy Quốc tỏ ra siêng năng và an phận. NgườI lối xóm ai cũng
khen và có cảm tình với ngườI ở đợ thật thà chất phác đó.
Cuộc đời anh ở đợ cục mịch tưởng thế êm
trôi. Nào ngờ một hôm Quốc thay đổI tính tình. Xao lãng mọI chuyện thường ngày,
Quốc biếng ăn biếng nói. NgồI đâu anh cũng nghĩ ngợi hằng giờ, trầm tư mặc tưởng
những chuyện đâu đâu… Có khi Quốc như ngườI mất trí, hò hét, đấm ngực, đụng đầu
vô cột nhà, làm cho ai nấy đều ghê sợ. MỗI lần Quốc lên cơn như vậy, cả xóm đến
coi đông đảo… Trước hành động lạ lùng ấy, những người lớn tuổi trong làng giải
thích: “Quốc bị ngườI khuất mặt hành hạ.”.. Có lúc Quốc tự xưng mình là “Ông Tướng
Núi”, có lúc khác “Ông Lèo”…
Mấy ngày kế tiếp, Quốc xin thôi “ở đợ” cho
ông Nguyễn Chánh Sắt, đi lang thang chữa bệnh không lấy tiền. Quốc dùng tàn
nhang, nước lạnh, hoặc bông hoa…cho bệnh nhân uống, nhưng lạ thay hầu như bệnh
nào cũng thuyên giảm hay bớt rất nhiều. Tiếng tăm “Ông Thầy Núi” được lan truyền
đi xa. Gặp những ngườI bệnh tâm thần, la lối, phá phách lung tung, Quốc áp dụng
hình thức bùa phép Miên: dùng dây chỉ cột chặt vào cườm tay gọi là “dây niệt” để
“trừ tà ma”… Trong số những người bệnh ấy, có người
lành mạnh hẳn. Vì thế Quốc được coi như một
“danh y”. Trong khắp vùng, nhiều người có thân nhân bệnh hoạn đều chở tới am nhờ
Ba Quốc chữa trị. Lành bệnh, họ tình nguyện ở lạI “làm công quả” để trả ơn thầy.
Họ chung góp tiền bạc, vật liệu như cây lá cất một cái am nhỏ để Thầy Núi có chỗ
“trị bệnh làm phước”. Am ấy cất trên phần đất của ông Nguyễn Chánh Sắt và dần đần
trở thành chỗ hành đạo như một “tiểu triều đình”.
Ban đầu, Quốc trang trí cái am như một
ngôi chùa, thờ phượng lung tung: các vị thần linh (tướng Núi), các nhân vật
trong truyện Tam Quốc đã hiển Thánh như Quan Công (Quan Thánh đế quân và Chủ vị
năm Ông…) theo cách suy nghĩ của những người có trình độ hiểu biết thấp
kém. Từ đó, nhiều đồng bào ở xa cũng tìm
tớI, tình nguyện xin “làm đệ tử” sau khi được ông thầy Núi chữa bệnh. Nhiều đứa
trẻ con được Ba Quốc chữa lành bệnh, cha mẹ chúng “ký gửi” cho thầy, làm kẻ hầu
hạ, sai vặt và học đạo!
Theo sự mô tả của ngườI địa phương, tuy
cái am lợp lá, vách lá nhưng cao và khá rộng. Ở chính giữa có gác để thầy Núi
lên đó “tịnh” (trầm tư). Từ đó Ba Quốc trở thành giáo chủ “Đạo Tưởng”. Đạo Tưởng
cũng có đọc kinh theo truyền khẩu… Các người ủng hộ đều cho rằng Đạo Tưởng
chính là một chi phái của Bửu Sơn Kỳ Hương. Trong am có đặt nhiều bàn thờ, cúng
trái cây, bông hoa, nước lạnh và thắp nhang. Hằng ngày ông giáo chủ Đạo Tưởng tịnh
một thời trên gác rồi ông ra trước bàn thông thiên lạy đủ 4 hướng.
Thấy ông
làm được việc thiện “có tâm đạo”, người ta đem con em đến xin “ ký gửi, thọ
giáo” càng ngày càng nhiều. Nửa thế kỷ trước, gia đình nào ở Nam Kỳ cũng có con
đông. Họ nghèo, làm không đủ ăn nên gửi con em cho thầy, cũng như một cách “ở đợ
thí công”. Như vậy nhứt cử lưỡng tiện, một công hai việc. Có kẻ hầu hạ cơm nước
sai vặt… bây giờ ông Đạo Tưởng được trọng vọng khác thường. Cũng từ đó khiến
ông có ảo tưởng. Chỉ có một điều lạ lùng khi gia nhập Đạo Tưởng, họ phải thề
nguyền trước bàn thờ và trước mặt thầy: “Đệ tử xin nguyện không phản Thầy và Đạo”.
Với niềm tin của ngườI mê tín, mỗi lần ông Đạo
Tưởng trị bệnh, đốt vàng bạc, hòa vớI nước lạnh đưa cho họ thì họ trịnh trọng bưng
uống “bùa phép của thần linh”. Uống xong, tất cả bệnh nhân, ngườI nhà, ngồi
xung quanh ông, trầm tư bất động. Có người như bị thôi miên. Sau đó, vài con bệnh
cảm thấy trong nguườI nhẹ nhàng, lòm còm ngồi dậy, tới lạy Thầy. Từ đó “Đạo Tưởng”
được dân chúng trong vùng biên giới như Tịnh Biên, Nhà Bàng, Chợ Vàm….cũng tìm
tới xin trị bệnh.
Ông Nguyễn Văn Kiểm, nhà giáo, dạy trường
Tiểu học Tân Châu đã giải thích ý nghĩa Đạo Tưởng như sau: Đạo Tưởng là nghĩ đến
Tổ Quốc, chớ không phảI mơ mộng viễn vong. Cách giảI thích ấy quá chủ quan.
Không rõ thực hư thế nào nhưng các đệ tử tin cậy và đang phục vụ cho Đạo Tưởng
có kể lại rằng có lần ông Đạo Tưởng ngồI tham thiền giữa đêm khuya vắng vẻ,
quanh mình ông có tỏa ra ánh hào quang. Với thành kiến ngườI Á Đông, những ngườI
có hào quang tỏa ra phảI là nhưng bậc phi phàm, hoặc có chơn mạng đế vương.
Không rõ những điều ấy có thật hay chính ông Đạo Tưởng thêu dệt để làm tăng
thêm tính chất huyền bí. Hơn nữa tín đồ của ông vì mắc lời thề, nên tin tưởng
vào ông tuyệt đối.
Từ năm 1934-35, đạo Tưởng có nhiều tín đồ ở
rảI rác trong tỉnh Châu Đốc, vùng biên giới Thất Sơn qua tới Hà Tiên và ra đến
hải đảo Phú Quốc nữa. Những năm 1937- 38…tại am ông Đạo Tưởng lúc nào cũng tấp
nập khách thập phương.
Để thu phục thêm những đệ tử
trung thành, ông Đạo Tưởng cũng tỏ cho họ thấy những phép thuật của ông. Một lần,
ông đụng đầu vào cây đinh một tấc, đóng vào cột: cây đinh quẹo sang một bên nhưng
đầu ông không hề hấn gì. Người biết chuyện cho rằng ông Đạo Tưởng học được phép
sình tả tức học gồng. Nhiều người còn đồn rằng có lần thấy ông Đạo Tưởng đứng để
cho một người khác cầm dao chém mà không hề hấn gì….Thậm chí có người còn tin rằng
súng đạn cũng không bắn thủng da thịt của đức Thầy…
Nhờ cách gồng mà Đạo Tưởng mê hoặc được
thêm tín đồ. Khi tập hợp được một số đệ tử trung thành, Đạo Tưởng cũng đem võ
nghệ, bùa phép hướng dẫn họ luyện tập. Vài đệ tử học võ với ông, lập được thành
tích khi đấu sức, được lan truyền nhanh chóng: cú đá thôi sơn, cú đấm ngoạn mục
làm cho đối phương tốI tăm mặt mày! Hằng đêm, trước sân am của ông, cảnh tập
luyện tựa như thí võ đài rất nhộn nhịp. Họ tập đấu võ, múa gậy, côn, quyền. Học
trò đến học thường đem theo lễ vật: gà vịt trái cây, nhan đèn… Cũng có người đem
tiền, chở lúa gạo đến cho Thầy. Mỗi lần đấu võ, ông Đạo Tưởng dạy đệ tử đọc bùa
chú, lâm râm khấn vái khiến ai nấy đều tin rằng họ có được phép thuật huyền bí
nào đó trợ giúp. Hồi đó, các võ sĩ mỗi khi lên đài thường lén ngậm ông Phật
trong miệng, coi như được truyền sức mạnh. Thật ra đó chỉ là yếu tố tâm lý...
Bước kế tiếp, ông Đạo Tưởng lập riêng “tiểu
triều đình” căn cứ theo sự hiểu biết qua các truyện Tàu. Chuyện như giả ngộ nhưng
nhiều người ùn ùn tin theo: Đạo Tưởng lúc cao hứng tự xưng “Hòang Minh Quốc”,
phảng phất câu chuyện Thái Thượng Hòang Minh ở Đồng Tháp MườI vào năm 1929. LợI
dụng sư mê tín của dân quê, ông đạo này cho xăm hai chữ “Sơn Hà” vào hai tai,
“Xã Tắc” vào hai chân của đứa trẻ, cháu ngoại ông mớI sanh. Từ đó rỉ tai cho lối
xóm biết “điềm trờI”. Ông còn cho biết đứa bé ấy chính là Thánh ra đời. Nó sẽ
là Minh Vương và ông sẽ làm Thái Thượng Hoàng Minh.
Ông kêu gọi bá tánh hiến nạp của cải, tài
sản. Họ cũng chung sức cất nhà cho ông, tình nguyện làm lính cho ông đánh Tây!
Ông tổ chức độI ngũ dân quân với giáo mác… Ông phong chức cho các thuộc cấp như
một triều đình trong truyện Tàu. Công việc tiến hành có vẻ bí mật nhưng không
thoát khỏI sự dò xét của thực dân.
Lúc ấy tình hình chính trị thuộc địa rất găng.
Pháp lo sợ những cuộc bạo động, khởI nghĩa của ngườI bản xứ ở khắp Việt Nam. Họ tìm đủ
biện pháp để đối phó: theo dõi bắt bớ những kẻ tình nghi “phá rối trị an”. Khám
đường Sài Gòn, các trại giam mớI được thiết lập ở Bà Rá, Tà Lài, gần Định Quán.
Tất cả đều chật nít “tù chính trị”. Ông Đạo Tưởng cũng bị rình rập. Nhất cử nhất
động của ông đều được một tín đồ cũ là Trương Văn Hiếm, lúc nầy có chức phận vớI
Pháp, báo cáo lên quận trưởng Tân Châu Nguyễn Văn Lễ. Biết rõ thái độ và hành động của ông Hiếm, tiểu
triều đình của ông Đạo Tưởng đã mật nghị, quy tội ông là phản thầy phản đạo và
kết án tử hình.
Diễn biến cuộc bạo động
Căn cứ vào bài vị thờ các nạn nhân, sau
này người ta biết rõ ngày tháng xảy ra cuộc bạo loạn ấy. Đêm ác mộng hãi hùng xảy
ra ngày 26-2-1939 tức nhằm ngày mồng 9 Tết năm Kỷ Mão. Theo lờI tiết lộ của những
tín đồ thân cận nhất của ông Đạo Trưởng thì kế hoạch bạo động được ấn định vào
ngày rằm tháng giêng năm đó nhưng bị tiết lộ nên lịnh khởI nghĩa được ban hành
sớm hơn. Trọn ngày mùng 8 Tết, dân chúng ùn ùn đến am ông Đạo Tưởng để nghe giảng
đạo và thuyết pháp… Trăng non thượng tuần, khí hậu mát mẻ, thanh niên thiếu nữ
kéo nhau lên am chật nức cả đường đi.
Lần nầy ông đạo Tưởng xuất hiện rất khác lạ:
sau phần nghi lễ trang nghiêm, trong bộ y phục giống hệt như tuồng soái hát bộ
trên sân khấu, ông đạo Tưởng cao hứng nói thao thao bất tuyệt:
- HỡI đồng bào và đồng đạo! Nước ta bị ngườI
Phú Lang Sa bắt làm nô lệ gần trăm năm. Theo trờI định, số bọn cướp nước sắp
mãn. Đồng đạo, đồng bào hãy nghe lờI ta, đoàn kết lại đánh đuổi bọn xăm lăng cướp
nước.
Các
tín đồ mặt mày bừng bừng sát khí như uống lấy những lờI vàng ngọc của thầy. Có
lúc cao hứng, Ông đạo Tưởng tuyên xưng:
- Ta là chính vì vương thay mạng TrờI để
lập quốc, đánh đuổi bọn Lang Sa cưú đời. Với pháp thuật cao cường của ta, súng đạn
trở nên đồ bỏ, vô dụng.
Trước những lời thậm xưng khích động về
chính trị, nhiều vị cao niên có ý thức bỏ ra về. Buổi thuyết pháp chấm dứt
trong bầu không khí nặng nề căng thẳng. Sau đó am của ông đạo Tưởng được tín đồ
canh gác cẩn mật. Không khí khác lạ hơn
ngày thường. Gà gáy canh tư. Khoảng 4 giờ khuya, có tiếng la thất thanh cầu cứu:
- Ông đạo Tưởng giết ngườI!
- Cưú tôi với!
Nhiều gia đình thức sớm, chạy lại phía am đạo
Tưởng xem việc gì xảy ra. Bên trong am đèn đuốc sáng choang nhưng cửa đóng kín
mít. Có tiếng xô xát, vật lộn giữa nhiều ngườI, bàn ghế ngã đổ rổn rảng. Có ngườI
thoát chạy ra ngoài, mình mẩy máu me bê bết. Thấy vậy những kẻ hiếu kỳ cũng hoảng
sợ bỏ chạy. Gần đó, có tiếng mõ nổi lên hồi một, liên hồi báo có biến động như
trộm cướp, giết người…
Sau nầy, khi cuộc bạo động kết thúc, ngườI
ta đúc kết các sự kiện. Sách “Tân Châu” của tác giả Nguyễn Văn Kiềm viết về
khúc phim bạo động ấy sẽ được trích một đoạn
ở phần sau. Theo nhiều ngườI kể lại thì khi cuộc thuyết pháp chấm dứt, ông Đạo
Tưởng cùng tín đồ và những nhân vật chính trong tiểu triều đình ấy họp bàn kế
hoạch. Một “tiên phuông” được “chính vì vương” ban mật lệnh mời Hương tuần Trương
Văn Hiến tới am có việc cần. Ông đạo Tưởng ngụy tạo đó là lệnh của Hương Quản
Huỳnh Công Minh. Vì là ngườI dưới quyền Hương quản, nghe lịnh Hương quản đòi,
ông Hiếm lật dật mặc áo vào rồi tới am. Ông Hương quản cũng được mời nhưng đã
không tớI nên thoát chết.
Trên đường đi, ông Hiếm ghé mời thêm hai
ông bạn láng giềng là Mai Văn Du và Mai Văn Lang, lúc nầy cũng vừa thức sớm, đang
uống trà đàm đạo thời cuộc mùa màng… Tò mò cả ba cùng tới am ông đạo Tưởng. Vừa
tớI nơi, cả ba ông được tín đồ sốt sắng “hộ tống” vào ngồI phía bên trong của
cái bàn dài sát phía vách. Không ai nói ra nhưng cả hai ông Du và Lang đều cảm
thấy có điều gì bất trắc nên đang lo lắng bồn chồn. Nhìn ông đạo Tưởng và cả
cái triều đình đùng đùng sát khí, cảm thấy sự nguy hiểm sắp xảy ra, ông Lang bấm
tay ông Hiếm. Ông Hiếm đứng dậy định nói vài lời xin rút lui thì thình lình có
lịnh dõng dạc:
- Đảng ta đâu, thộp cổ chúng nó cho mau!
Khắp trong am có tiếng “dạ” rân như trong
tuồng hát bộ. Cánh cửa am đóng dập lại. Đã toan tìm lối thoát trước nên ông Du
dốc toàn lực lách mình ra ngoài, chạy nhanh về nhà. Tuy vậy ông cũng bị “quân sư”
Hương của Đaọp Tưởng chém một vết khá sâu máu tuôn xốI xả. Vừa chạy ông Du vừa
la làng cầu cứu.
Lúc ấy ông Hiếm bị tín đồ trong am ôm chặt,
hết phương vùng vẫy. Oai phong lẫm liệt như một tướng soái, ông đạo Tưởng chỉ mặt
ông Hiếm gằn từng tiếng:
- Mầy nhớ lờI thề “không phản thầy phản đạo”
hay không? Cho mầy sống chật đất.
Một “nguyên soái” phụ thêm:
- Cho thằng nầy về chầu tiên tổ để
làm gương kẻ khác.
Liền đó một võ sĩ bước tới vặn cổ ông Hiếm.
Một đồng bọn dùng dao chém mạnh khiến đầu đứt lìa. Các đồng bọn khác tiến lên.
Khắp mình mẩy ông Hiếm bị chém hàng chục nhát dao. Cảnh chém giết ghê rợn và hỗn
loạn. Giữa lúc nguy cấp, ông Lang tìm cách thoát vòng vây. Nhờ có võ, ông tả
xông hữu đột. Ông đánh, đấm, thúc cùi chỏ khiến các tín đồ bao vây ông té nhào.
Vòng vây giãn ra nhưng cửa am còn khóa chặt.
Ông Lang dùng hết sức mình đạp mạnh vào vách am bằng lá chắm. Vách vừa
thủng một lỗ, ông cố hết sức bình sinh nhảy vọt ra ngoài. Khắp mình mẩy đều thọ
thương tích, ông vừa chạy vừa la làng:
- Đạo Tưởng giết tôi! Đạo Tưởng giết
tôi!
Trên đường, ông Lang ghé nhà ông Hiếm báo
hung tin cho vợ con ông nầy biết. Bà Hiếm xúc động đến ngất xỉu. Khi tỉnh lại,
bà lồng lộn chửI bớI, kêu gào thảm thiết. Rồi không dằn được lòng căm thù, bà
Hiếm xăng tay áo, đi xăm xăm lại am. Bà vừa đi vừa nói: “Sống đồng tịch đồng
sàng; chết đồng quan đồng quách!”
Hấp tấp, tay không, bà chỉ
biết chửi bới. Đám tín đồ đạo Tưởng như say máu, liền chặt đầu bà, rồi chém nát
thây bà. Đạo Tưởng dùng hai cái đầu lâu làm lễ tế cờ, kế đến xuất quân kéo lên
quận đường Tân Châu, quyết ăn thua đủ vớI binh lính trên đó. Khúc phim ác chiến
giữa ông đạo Tưởng và tín đồ với binh lính quận được ông Nguyễn Văn Kiềm thuật
lạI đầy đủ chi tiết như sau:
“ Sáng ngày mùng 9 Tết Kỹ Mão (27-2-1939),
khi mặt trờI vừa ló dạng, quang cảnh châu thành Tân Châu bao trùm một màu tử
khí. Chợ búa ngưng hoạt động. Đồng bào lao nhao lố nhố, chuẩn bị đề phòng những
việc bất trắc xảy ra.
Giờ này tại am đạo Tưởng hiện ra một quang
cảnh tôn nghiêm: trước sân có bàn thờ, bày đồ lỗ bộ (khí giớI chiến tranh thuở
xưa) mượn từ đình Long Phú cách đó 400m. Gươm giáo sắp song song vớI bàn Thông
Thiên, xa trông uy vũ như của nguyên soái. Bên cạnh là thây của vợ chồng ông Hiếm,
nằm trên vũng máu đặc kẹo, trông dễ sợ.
Đứng oai nghiêm trước am, ông đạo Tưởng mặc
toàn màu vàng, áo tay rộng, đầu phủ bích cản (khăn xanh), lưng thắc dây, chân
mang giày bố vàng, có đeo lòng thòng xâu chuỗi bồ đề… cùng với 60 tín đồ, cũng
chung kiểu đồng phục: đầu trọc, áo vàng, sắp thành 3 hàng làm lễ ra quân.
Xung quanh đồng bào đứng coi đông nghẹt như
một trận đá banh. Dọc theo kinh Vĩnh An và bờ sông Tân Châu, thuyền bổn đạo các
nơi, giả buôn bán, chở đồ tiếp tế như khoai lang, bí rợ, bắp… cập bến chờ giờ hưởng
ứng...
LốI 8 giờ sáng, ông Quận trưởng Nguyễn Văn
Lễ, vớI cây súng “Mauser” hộ thân, đi kèm có thơ ký Phan Văn Thăng (võ sĩ kiêm
trọng tài đá banh). Ngoài ra còn có tên Lafont, một số lính garde, độ 2 tiểu đội,
vớI súng trường, theo đội hình chữ nhất, tiến dọc theo bờ kinh Vĩnh An, vào tận
đường chùa. Cách am chừng 100m, ông Lễ cho dừng quân, bố trí và siết chặt vòng
vây.
Ông đạo Tưởng không hề nao núng trước áp lực
của nhà cầm quyền Tân Châu. Với võ khí thô sơ, các tín đồ vẫn hiu hiu tự đắc. Họ
quá tin tưởng ở phép mầu nhiệm, tưởng rằng có thể hạ được quân Pháp dễ dàng.
Khi hai bên còn cách nhau chừng 50m, ông Quận Lễ bình tĩnh, dùng lời lẽ ôn hòa để
xoa dịu tình thế và lòng hiếu chiến của phe đạo Tưởng. Trước hết, ông Lễ mờI Ba
Quốc tới giảng hòa, lờI lẽ khiêm tốn:
- Nếu ông có điều gì bất bình và cần thiết,
thì truyền lịnh cho tín đồ hạ khí giới, giải tán, rồi cử người đại diện đến thiểm
đường để dàn xếp ổn thỏa. Khuyên bổn đạo chớ nên nóng nảy, bạo động sẽ gây nhiều
chuyện không hay…
Những lời lẽ ấy không xoa dịu tình thế mà
còn làm cho họ tưởng rằng ông Lễ sợ, nên càng nung nấu sự căm phẫn của phe đạo
Tưởng. Ông đạo Tưởng nói lớn:
-
NgườI Lang Sa (Pháp) cướp nước chúng tôi đã lâu rồi. Vậy Tây nên thức thời,
trả nước lại cho chúng tôi lèo lái, vì chúng tôi có một “triều đại” đủ sức đảm đương
việc nước.
Lúc quá cao hứng ông tự giớI thiệu:
-
Ta là Hoàng Minh Quốc, còn đây là văn võ bá quan…
Nói
xong ông còn đại ngôn:
-
Võ khí của Pháp là đồ vô dụng, không thể phạm vào mình đồng da sắt của
chúng tôi.
RồI ông thách đố:
- Các ông cứ việc bắn đi! Chúng tôi
không sợ đâu.
Đoạn ông ra lịnh cho tín đồ sẵn sàng tiêu
diệt đối phương. Thấy tình thế có vẻ nguy hiểm, ông quận Lễ hô to:
-
Các người hãy buông khí giớI đầu hàng, nếu không sẽ có hại…
Bất chấp lờiI kêu gọi ấy, đạo Tưởng còn
khích động kêu gọi binh sĩ Tân Châu:
- Hỡi
binh sĩ! Trẫm nay vốn thiệt Minh Hoàng. Các khanh hãy cởi trả áo lại cho Lang
Sa và sát cánh theo “quả nhơn” để tiêu diệt lũ thù chung.
Ông còn nói vớI ông quận Lễ:
- Hãy mở vòng vây để phe ta chiếm
Tân Châu và giết Tây!
Quân lính nao núng. Nhiều nơi có vẻ khiếp đảm
vì họ bị ám ảnh nặng nề bởI bùa phép của đạo Trưởng. Thấy nguy biến, ông quận Lễ
ra lịnh bắn chỉ thiên. Trớ trêu, phát đầu tiên bị lép, không nổ. Nhiều tín đồ vỗ
tay la ó, khinh thường súng đạn hơn nữa. Họ cho rằng phép thuật của ông đạo Tưởng
linh thiêng. Thấy nhiều ngườI tràn tới, quận Lễ buộc lòng hô: “bắn”.
Đạn xẹt ra tua tủa cùng với tiếng nổ đinh
tai nhức óc. Nhưng lịnh chỉ cho bắn rà sát đất. Vì tin đạn sẽ tránh mình nên
tín đồ đạo Tưởng nhảy cà bông, xem như trò chơi, reo hò vang dội cả một góc trời...
Họ hăng máu lăn vào chiến trường. Kết cuộc, đạo Tưởng lãnh viên đạn của cò Tây
Lafon, ngã gục trên bãi chiến. Thấy Thầy chết thê thảm, tín đồ mất hết tinh thần. Như rắn không đầu, họ hoảng hốt ùn ùn bỏ chạy
tán loạn dọc theo hai bờ kinh Vĩnh An. Súng đạn vẫn cứ nả theo… Năm bảy mạng ngườI
ngã xuống, gây một thãm cảnh hỗn loạn thương tâm.
Ông quận Lễ ra lệnh ngưng bắn. Quân lính cầm
súng rượt theo nhóm nổi loạn, bắt được tất cả gần 30 người, trong đó có các
“nguyên soái” Năm, “quân sư” Hương. Chẳng bao lâu sau, quân sư Hương bị ông Du
trả thù bằng cách đâm ngọn tầm vong vào mắt lòi tròng…
Những ngườI bị bắt, sau đó bị Tây đánh bằng
bá súng rất dã man. Tất cả những người bị bắt được giảI giao về Châu Đốc, rồi bị
đưa ra tòa. Một số bị tù Côn Đảo, vì lúc ấy thờI cuộc chiến tranh lần thứ hai sắp
khai diễn. Xác Đạo Tưởng cùng tín đồ được chôn chung một hầm tại phía sau trường
tiểu học Tân Châu.
Dư luận của nhiều phía:
Chê hành động của ông đạo Tưởng, Ông chủ
quận Võ Văn Nhiễu cho biết: “Đó là một cuộc bạo động của một nhóm ngườI thất học,
mê tín dị đoan. Ông đạo Tưởng được nhiều tín đồ sùng bái, tôn kính nên càng khiến
ông có ảo tưởng về uy quyền, bùa phép. Khi đã cuồng tín, thường không nghĩ đến
hậu quả của việc làm. Lúc đó, ngườI dân thường tin vào bùa phép của các ông “Thầy
Núi” nên nói gì cũng nghe, kính cẩn “uống những lờI vàng ngọc”. Hành động của
ông Đạo Tưởng thì bất nhất. Lúc thì hành đạo, thuyết pháp. Lúc thì chữa bịnh bằng
phép thuật, trừ tà ma. Có khi lại xin đầu quân qua Pháp đánh Đức. Ông Đạo Tưởng
và tín đồ hoàn toàn không có ý niệm cụ thể việc họ làm. Chỉ nhìn cái “triều đình
kiểu hát bộ’ cũng đủ biết trình độ của họ ra sao! Đó chẳng qua là cuộc nổI loạn
của những kẻ cuồng tín”.
Khen hành động của ông đạo Tưởng, ngườI ta
nhận xét: “ PhảI nhìn một thực tế, đạo Tưởng có nhiều tín đồ trung thành, tuân
theo mệnh lệnh của ông một cách tuyệt đối. Họ mê tín đến ngông cuồng. Họ dám bỏ công ăn việc làm để sống chết vì đạo
vì thầy. Họ sẵn sàng góp công lẫn của và đó là một lực lượng quần chúng khá mạnh
đã giúp ông đạo Tưởng mạnh dạng nổI dậy chống Tây….
Ông đạo Tưởng chết nhưng những người theo
ông vẫn tiếp tục hoạt động. Trong một
tài liệu, cụ An Khê kể lại: “ Năm 1940, một năm sau vụ nổi dậy, chiến sự Pháp
Xiêm bùng nổ, tôi bị kẹt lại ở Phú Quốc, phảI sống theo một gia đình nọ làm rẩy
trên núi. Người chồng theo đạo Tưởng. Thỉnh thoảng có ngườI bịnh lên núi rước
anh xuống trị. Tôi chứng kiến thấy cách trị bịnh giống như thầy pháp… Năm 1942,
ở núi Tượng, tôi có ngườI cậu làm thủ lãnh đạo Tưởng, một hệ phái của Bửu Sơn Kỳ
Hương. Ông cũng đã chuẩn bị để “khởI nghĩa” chống Tây. Nghe tin, tôi cấp tốc về
Châu Đốc, lên núi Tượng gặp đúng lúc cậu đang làm lễ tế cờ rước ba quân, gươm
giáo lấp lánh, xôn xao khí thế quật khởi… Tôi phảI khuyên cậu là..thờI cơ chưa
tới!”
HỨA HOÀNH