Trang Chính    Hình Ảnh    Hộp Thư    Truyện Thật Ngắn    Bút Ký    Truyện Ngắn    Thơ    Góp Nhặt    Sức Khỏe và Gia Đình    Gia Chánh    Tin Tức

 

SÔNG MEKONG  QUA THỜI GIAN

 

TÂM BÌNH

 

THỜI HOANG DÃ 1866-1868

Đã 140 năm kể từ ngày nhóm thám hiểm Pháp  khởi hành từ Sài Gòn, ngược dòng sông Mekong đi tìm một thủy lộ giao thông với Trung Quốc. Qua các tài liệu của  Louis Delaporte / Francis Garnier. The Mekong Exploration Commission Report, mới đây với Milton Osborne với “River Road to China 1866-1873” chúng ta thử tìm về con sông Mekong thời hoang dã. 

                                                 

M I QUAN TÂM TỪ SÀI GÒN: Năm 1860, tuy Pháp đã thiết lập được nền bảo hộ ở Sài Gòn, nhưng cuộc sống những người Pháp ở đây đã chẳng sáng sủa gì. Một số người tỏ vẻ bất mãn về giá trị thương mại của thuộc địa Nam Kỳ lúc đó nên muốn tìm tới một triển vọng làm ăn khá hơn. Họ bắt đầu quan tâm tới khả năng khai thác con sông Mekong. Năm 1865, ước muốn khám phá sông Mekong hầu như được chấp nhận rộng rãi từ giới chức thuộc địa Nam Kỳ lẫn phía bên Pháp. Và kết quả đã đưa tới sự hình thành một đoàn thám hiểm. Đoàn gồm sáu người,  tuổi trẻ rạng rỡ và có học thức, sống giữa thế kỷ 19_ thế kỷ của chịu đựng và khắc kỷ.

Doudart de Lagrée, 42 tuổi, trầm tĩnh, tốt nghiệp trường Bách Khoa, sĩ quan hải quân, trưởng đoàn. Francis Garnier, đam mê sôi nổi, phó đoàn. Louis Delaporte, sĩ quan hải quân, 24 tuổi họa sĩ ký họa. Clovis Thorel và Lucien Joubert không chỉ là hai bác sĩ, Thorel là nhà nghiên cứu thực vật còn Joubert giữ vai trò chuyên viên địa chất.  Louis  de Carné, người trẻ tuổi nhất được nhập đoàn với tư cách đại diện bộ ngoại giao Pháp. Họ khởi hành từ Sài Gòn, bắt đầu một sứ mạng mà Đô đốc hải quân Pháp Paul Reveillère cho là: “Có tầm vóc xứng đáng với đam mê của thế kỷ.”

 

SAMBOR GHỀNH THÁC ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT MIÊN:

-Năm 1866: ngày 05 tháng 06, đoàn rời Sài Gòn trên một chiến hạm võ trang, đi Kompong Luong, đến thăm Angkor trước khi tới Nam Vang . Ngày 07 tháng 07, đoàn rời Nam Vang đi Kratié theo hướng đông băéc. Trước mắt không xa là thị trấn Sambor với một vùng ghềnh thác đầu tiên, rõ ràng không thể vượt qua bằng tàu. Họ phải cần tới 2 ngày để chuyển đồ từ tàu lên bờ rồi chất xuống những chiếc thuyền nhỏ không có động cơ, sức đẩy chỉ là do người chèo chống, và rồi họ cũng tới gần được chân thác Sambor. Bây giờ là giữa tháng 7 đang mùa lũ, con sông trải rộng tới hàng dặm, nước dâng cao thêm năm mét, ngập hết cồn bãi, chỉ còn thấy nhô lên từ mặt nước là những chòm cây vật vã trong gió. Sức nước thì chảy siết, thuyền chậm chạp nhích tới bằng sức kéo của đoàn người đi dọc theo bờ sông. Chẳng còn thấy giới hạn đâu là bờ bãi, đâu là dòng chính, chỉ thấy những đoạn nông sâu thật bất chợt. Không có cả bãi nghỉ, đoàn phải ở lại trên thuyền qua đêm không ngủ trong sấm sét và mưa bão. Qua bao nguy hiểm, cuối cùng họ cùng vượt qua được 50 cây số thác ghềnh để tới được  Stung Treng. Tại đây trong khi Lagrée trưởng đoàn muốn thám hiểm phụ lưu Se Kong, thì Garnier lại chọn cuộc phiêu lưu khá kỳ cục là xuôi trở lại theo con thác bên phía hữu ngạn với hy vọng tìm cho được thủy lộ an toàn đi từ thị trấn Sambor tới Stung Treng. Để rồi chính Garnier ý thức được rằng chẳng có tàu bè nào có thể vượt qua được con thác Sambor ấy. Khi Garnier trở lại được Stung Treng thì cuộc hành trình đã kéo dài gần hai tháng, và bao nhiêu hy vọng ban đầu gần như tiêu tan. Nhưng họ vẫn tiếp tục cuộc khảo sát và tiến tới. Trong không khí chẳng mấy lạc quan ấy, thì Garnier và Joubert bắt đầu ngã bệnh. Không phải kiết lỵ mà là bệnh “st rừng”, trong khi Joubert may mắn hồi phục trong mươi ngày thì Garnier bị hôn mê kéo dài suốt ba tuần lễ. Cho dù Garnier trong tình trạng tính mạng bị đe dọa, Lagrée quyết định tiếp tục cuộc hành trình. Bốn ngày sau đoàn tới gần chân thác Khone và cũng là ngày Garnier bắt đầu tỉnh lại nhưng sức khỏe thì suy kiệt với tóc rụng da bong và chân trái hầu như bị liệt. Garnier chỉ thực sự hồi phục sáu tháng sau bằng tất cả sức mạnh của ý chí và lòng ham sống.

 

THÁC KHONE, MỘT THỬ THÁCH TRÊN ĐẤT LÀO: Họ đã nghe nói tới thác Khone, đó là một chuỗi những ghềnh và thác trải dài gần 14 cây số đan móc vào với nhau từ bờ  bên này tới bờ kia. Cảnh tượng thật ngoạn mục với vang ầm tiếng nước đổ sủi bọt tung tóe trên các ghềnh đá. Qua chuyến thám sát sơ khởi, Lagrée nhận định không thể nào di chuyển theo dòng chính, các con thác cao nhất  thì ở bờ phía tây, chỉ còn bờ phía đông là khả dĩ  đoàn có thể dùng thuyền nhỏ di chuyển. Sức mạnh của con nước có thể thấy rõ  từ chân thác với xác chết của cá và cả cá sấu từ trên cao bị cuốn đập vào những khe đá. Đoàn men theo bờ đông tiến một cách chậm chạp ngược dòng nước chảy siết; và phải mất hơn một ngày trời để vượt một đoạn đường chỉ có vài dặm để tới được đảo Khong phía trên con thác.

Cho tới giai đoạn này, ngoài sự quyết tâm, lòng can đảm và sức chịu đựng của đoàn thám hiểm, hình như họ vẫn chưa chịu chấp nhận một sự thật là con sông Mekong không thể là một thủy lộ để trao đổi thương mại giữa Nam Việt Nam và Trung Hoa.

-Năm 1867: ngày 02 tháng 04, đoàn tới Vạn Tượng, chứng kiến dấu vết tàn phá của người Thái trong quá khứ trên thủ đô tráng lệ này; nhưng riêng ngôi chùa Phật Wat Phakeo của hoàng gia vẫn còn đó, ngọc xá lợi đã bị lấy mất, có lẽ bị đưa về Thái Lan. Họ tới thăm That Luong, ngôi đền nổi tiếng nhất của Vạn Tượng được dựng lên từ thế kỷ 16_ là niềm hãnh diện và cũng là biểu tượng của nước Lào. 

Ngày 04 tháng 04, đoàn rời Vạn Tượng, trở lại với đường sông đi Luang Prabang. Hơn 150 cây số dọc theo con sông là đồi núi trắc trở không có ngả vào, con  sông  thu hẹp lại với những thác ghềnh chạy giữa những khe núi đá và nếu vào mùa lũ thì vô phương di chuyển. Bây giờ đang còn là tháng 4 mùa khô, di chuyển cũng đã chậm chạp và khó khăn, chỉ trông vào sức người kéo. Ròng rã suốt 3 ngày họ chỉ mới nhích tới chưa được 20 cây số với giày dép thì rách bươm do bờ sông đầy sỏi đá nhưng rồi cuối cùng đoàn cũng tới được Chiang Khan. Đoàn cũng đang tiến gần tới vùng ảnh hưởng của người Anh. Sang đến ngày 23 tháng 04, đoàn lại phải đối đầu với một khúc ghềnh thác khác. Một lần nữa họ lại phải rỡ đồ xuống khỏi thuyền để có thể tiếp tục cuộc hành trình cho dù vô cùng chậm chạp. Nhưng rồi cuối cùng họ cũng tới được Luang Prabang, một thị trấn đang phát triển về thương mại, được bảo hộ bởi cả nước Thái Lan và Việt Nam.  Sau 4 tuần lễ lưu lại thị trấn này, sinh lực của đoàn như được hồi phục nhưng đồng thời con đường trước mặt là đầy những bất trắc.

 

CỬA VÀO TRUNG QUỐC: Từ ngày rời Sài Gòn, đoàn hầu như bị cô lập với mọi nguồn tin tức. Họ chỉ nghe nói có phong trào người Hồi nổi loạn dai dẳng ở Vân Nam; nay nếu đoàn tiến vào vùng tranh chấp ấy với giấy thông hành của triều đình Bắc Kinh thì quả là điều thiếu khôn ngoan. Và đoàn đã để ra 2 tuần lễ chuẩn bị ngày lên đường với số hành trang thật tối thiểu. Ngày 25 tháng 05, đoàn rời Luang Prabang đi Chiang Kong. Sau hơn 5 tháng gian khổ tưởng như đến kiệt sức, ngày 18 tháng 10 đoàn thám hiểm qua được biên giới Trung Hoa. Sau 15 tháng rời Sài Gòn, có lẽ họ là nhóm người Âu đầu tiên thành công vào “đất hứa Trung Hoa” qua ngả biên giới này. Cả đoàn cảm thấy nhẹ nhõm cho dù tình hình tại địa phương cũng không sáng sủa gì: vụ người Hồi giáo nổi loạn vẫn còn, lại thêm bệnh dịch tả đang hoành hành khắp Vân Nam.

Phải mất 3 tuần lễ nữa, đoàn tới Côn Minh, đó là thị trấn lớn nhất mà họ đặt chân đến từ ngày đoàn rời Sài Gòn. Tại đây cũng là lần đầu tiên họ được gặp lại đồng hương là linh mục Potteau và phái đoàn truyền giáo Pháp.

-Năm 1868: ngày 08 tháng 01, đoàn rời Côn Minh. Sức khỏe của Lagrée lúc này suy xụp đến mức phải cáng đi theo đoàn; di chuyển thật chậm chạp trên khung cảnh cao nguyên trơ trọi đầy gió lạnh. Mãi tới tuần lễ thứ ba, với chặng cuối đi bằng đường sông, đoàn tới Hội Trạch/ Hui tse. Tại đây bằng những cố gắng phi thường, Lagrée vẫn gắng gượng ngồi dậy để tiếp xúc với giới chức địa phương với tư cách trưởng đoàn. Cùng một lúc bị sốt rét và bệnh kiết lỵ gây biến chứng ápxe gan, gần như kiệt sức, Lagrée phải làm việc với đoàn ngay tại giường bệnh. Lagrée phải nghe theo ý kiến để Garnier dẫn đoàn đi Đại Lý, tiếp tục cuộc khảo sát lên thượng nguồn sông Mekong. Và có lẽ đây là tài liệu cuối cùng mang chữ ký Lagrée với tư cách trưởng đoàn. Bệnh tình Lagrée mau chóng suy xụp và kết thúc bằng cái chết không thể tránh. Riêng Garnier khi tới Đại Lý, đoàn bị vua Hồi từ chối tiếp kiến, đồng thời buộc phải rời Đại Lý ngày hôm sau. 

Sau cái chết của Lagrée, cuộc thám hiểm sông Mekong tới đây kể như chấm dứt. Ngày 20 tháng 04, họ xuống thuyền trên một phụ lưu sông Dương Tử, đi Hán Khẩu tới Thượng Hải rồi xuống tàu về Sài Gòn ngày 29 tháng 06 năm 1868 với chiếc quan tài của người trưởng đoàn sau cuộc hành trình đầy gian khổ kéo dài hơn 2 năm 24 ngày với kết luận là sông Mekong không thể nào là thủy lộ giao thương từ  Nam Việt Nam tới Trung Hoa.

 

MEKONG TRONG CHIẾN TRANH 1968

Một trăm năm sau chuyến đi của đoàn thám hiểm Pháp (1868-1968), giữa cuộc chiến tranh Việt Nam kinh hoàng, ký giả báo National Geographic (12- 1968, Vol 134, No.6) đã xuôi dòng sông Mekong từ Tam Giác Vàng xuống tới ĐBSCL. Sau đây là trích đoạn những trang ký sự của Peter T. White  qua chuyến đi ấy.

 

ĐI TÌM CHÍN CON RỒNG SÁNG: Việc đầu tiên là tôi khảo sát trên bản đồ. Tiếp đó tôi đi theo một phi cơ quân sự Mỹ bay cao rồi bay thấp trên khắp vùng, nơi mà đầm lầy lau sậy và các cửa sông bùn lầy tiếp xúc với Biển Đông. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng chỉ tìm thấy tám con rồng. Sao mà có thể như vậy được khi người Việt nam gọi là Cửu Long?  Tôi hỏi ông Tôn Thất Thiện, là Bộ trưởng Thông Tin. Ông ta cười nói: “Thực sự chỉ có tám nhưng số 8 không phải là con số hên. Phải là số 7 hoặc 9 và do đó chúng tôi đã tìm ra một cửa sông nữa nhưng rất nhỏ và hẹp chỉ dài ngót hai chục cây số nên tôi chắc anh sẽ chẳng buồn khi không tìm ra nhánh sông đó.” Dĩ nhiên là tôi không buồn vì còn rất nhiều điều liên quan tới con sôngMekong mà người ta hy vọng có thể tìm thấy được – trong một tháng, trong một năm, trong cả một đời người.

Nước từ nguồn tuyết tan từ 16 ngàn bộ trên cao nguyên Tây Tạng. Người Tây Tạng gọi tên con sông là Dza-Chu có nghĩa là Nước của Đá. Con sông đổ xuống phía nam qua những hẻm núi hoang vắng tỉnh Vân Nam với tên Lan Thương có nghĩa là con sông cuồng nộ. Và suốt hơn 1100 dặm khúc sông thượng nguồn này thuộc quyền thống trị của Bắc Kinh và dĩ nhiên họ không muốn có người Mỹ dòm ngó tới. Do đó tôi đã phải giới hạn cuộc hành trình từ vùng tam biên Miến-Thái-Lào, được coi như giới hạn phía bắc của vùng Hạ lưu sông Mekong.

Đây là khúc sông Mekong 1500 dặm trong cả chiều dài 2600 dặm, là con sông dài thứ 11 của thế giới và là con sông lớn nhất Đông Nam Á. Ba phần tư  lưu lượng nước ấy là do mùa mưa đổ xuống từ vùng Hạ lưu. Trải qua hàng ngàn năm, đời sống cư dân nơi đây và những cây lúa của họ đã thích nghi với nhịp điệu của con sông Mekong với hai mùa mưa nắng.

Có hai lý do khiến tôi không bao giờ quên được tầm quan trọng của vùng Hạ Lưu Sông Mekong.

Thứ nhất là cuộc chiến tranh. Tôi đã thấy nó dữ dội ra sao nhất là ở Nam Việt Nam. Thầm lặng hơn nhưng cũng không kém chết chóc là trận chiến tranh ở Lào  với những người Mỹ dân sự yểm trợ cho mấy chục ngàn lính quốc gia đối đầu với lực lượng nổi dậy do quân Bắc Việt hỗ trợ. Riêng Thái Lan, nạn khủng bố đã gia tăng cùng với xâm nhập của Cộng quân qua con sông Mekong. Với Cam Bốt tự coi như trung lập cũng không tránh khỏi sự xâm nhập của vũ khí. Cư dân sống trong vùng cảm thấy bị vây bủa vì cuộc chiến tranh mà diễn tiến của nó ra sao thì lại được quyết định bởi Hoa Thịnh Đốn, Mặc Tư  Khoa hay Bắc Kinh.

Thứ hai, hy vọng về một giải pháp cho Đông Nam Á, mở ra hứa hẹn có một không hai trong bối cảnh hòa bình: đó là Dự án Phát triển sông Mekong. Mục đích là đem lại sự thịnh vượng trong vùng, nơi mà 80% dân cư vẫn sống bằng nghề nông, đa số nghèo khổ suy dinh dưỡng và bệnh tật. Đó là kế hoạch xây những con đập dọc theo các phụ lưu và cả trên dòng chính sông Mekong. Chưa có nơi nào trên thế giới mà lại được hoạch định phát triển kinh tế vùng ở mức độ lớn lao đến như thế.

 

HỢP TÁC ĐỂ CHẾ NGỰ DÒNG SÔNG:  Kể từ 1957, phái đoàn của 4 nước này đã cùng nhau làm việc trong Ủy Ban Sông Mekong dưới quyền giám sát của LHQ. Dần dà dự án sông Mekong trở thành hiện thực. Nhóm kỹ sư và khoa học gia đến từ Âu châu, Bắc Mỹ và Á châu. Tới năm 1961 nhóm khảo sát chủ yếu là người Nhật đã chọn những khúc sông có thể xây đập. Các nhà lãnh đạo của 24 quốc gia – mà người náo nức nhất là Tổng thống Mỹ, cùng đồng ý đầu tư khoản tiền cần thiết  lên tới nhiều tỉ đôla.

Buổi sáng hôm đó từ thủ đô Vạn Tượng chúng tôi lên đường dưới một bầu trời xanh, con sông Mekong trong mùa mưa đẫm những phù sa màu nâu óng ánh. Đây là khúc sông biên giới giữa Thái và Lào. Chúng tôi đổ bộ lên bờ phía Thái Lan, khoảng 15 dặm phía bắc Vạn Tượng. Bờ  sông dốc và trơn trợt. Chúng tôi dừng lại ở độ cao 280 bộ trên mặt sông , một bảng hiệu ghi dấu địa điểm của đập Pa Mong, nơi Lỗ Khoan 108. Những chuyên viên người Thái năng nổ làm việc với chiếc dàn khoan Thụy Điển, tiếng nổ ồn ào, họ lấy ra được những thỏi đá hình trụ. Mabbott nói: “Đó là các mẫu đá phù sa (siltstone), phải gói dán lại ngay trong sáp nóng nếu không thì sẽ vỡ rữa. Chúng tôi sẽ gửi sang Denver, để phân tích. Anh không thể vẽ đồ án con đập nếu chưa nắm vững về địa chất.” Rồi tới phần địa hình. Khi nghe Mabbott trình bày thêm thì tôi hiểu tại sao dù với bao nhiêu tiền của thế giới đổ về thì con đập Pa Mong cũng không thể hoàn tất một cách vội vã. Phẩm chất của đá sẽ xác định chiều cao và sức nặng mà con đập có thể chịu được. Một diện tích rộng lớn phải được khảo sát để tính lượng nước có thể lưu trữ ở những độ cao khác nhau. Những yếu tố này sẽ qui định hình dáng độ dày và sức mạnh của con đập.

Mabbott vẽ một phác thảo. “Pa Mong ở độ cao 325 bộ so với lòng sông sẽ chứa được 3.4 ngàn tỉ bộ khối nước / cubic feet. Bây giờ chúng ta có thể nâng độ cao lên 360 bộ, cho lượng nước chứa lên tới 3.7 ngàn tỉ, gấp hai lần rưỡi đập Hoover của Mỹ. Cũng có thể chúng ta nâng độ cao lên tới 390 bộ...”

 “Chúng tôi ước chừng sẽ có giải đáp vào khoảng năm 1971.” Rồi 3 năm vẽ đồ án, 6 tới 8 năm để xây đập, thêm 10 năm nữa trước khi nhà máy điện có thể đạt được toàn công xuất. Tổng cộng phải hơn 20 năm! Và cần một tỉ đô la, chưa kể phí tổn về thủy lợi.

 

Trở về Vạn Tượng thấy các công trình xây cất đang mọc lên. Tôi cứ mải suy nghĩ và muốn biết là người Lào liệu có hạnh phúc hơn không nếu cứ để cho họ sống cuộc đời giản dị bên bờ con sông Mekong ấy?  Tôi hỏi Oukeo là thành viên Ủy Ban Sông Mekong. Anh nói: “Dân Lào chúng tôi bản chất vui tươi, không nhiều tham vọng như các ông, ngay cả khi đói họ cũng không than van nữa.” Anh tiếp: “Dân số Lào thì đang giảm dần, cứ 10 đứa trẻ thì có  6 hay 7 đứa chết. Không có viên chức Lào nào mà lại vui cho được với tình trạng như vậy. Do đó Kế Hoạch Sông Mekong quan trọng biết chừng nào!”

 

Từ Vạn Tượng xuống tới Cam Bốt, con sông Mekong chảy xuôi thêm 525 dặm, trong đó có 415 dặm là biên giới thiên nhiên giữa Thái Lào, nhưng không phải là đường ngăn chặn bọn khủng bố hay vũ khí được cất dấu trong những thuyền bè qua lại. Đối nghịch lại với một bối cảnh bất an như vậy, các dụng cụ đo đạc đặt hai bên bờ con sông Mekong vẫn tiếp tục thu thập các dữ kiện cho Ủy Ban Sông Mekong. Người ta lấy các mẫu chất lắng, đo mức thủy lưu và mức lên xuống cao thấp của dòng sông.

Xuống tới Nam Vang, thủ đô Cam Bốt với 600 ngàn dân, thành phố lớn nhất bên bờ sông Mekong. Nơi bến sông, là một cung điện. Cảnh trí hùng vĩ  khi nhìn về Quatre Bras nơi bốn nhánh sông  tụ lại. Vào mùa mưa do nước sông Mekong dâng cao, con sông Tonle Sap đổi chiêàu chảy ngược vào Biển Hồ. Khi mùa mưa chấm dứt vào tháng 11, con sông lại xuôi dòng trở lại.  Tôi tới thăm khu đền đài Angkor, đó là một quần thể những thành lũy lâu đài đẹp tinh tế và vĩ đại, một kiệt tác phẩm của con người một thời trong vùng Hạ lưu Sông Mekong.

 

NHỮNG CON ĐẬP HỨA HẸN: Đập Pa Mong và Nam Ngum [Lào], Sambor và Stung Treng [Cam Bốt], những dự án này đều được điều hợp từ Bangkok và là trụ sở của ECAFE của LHQ. Một kỹ sư Đài Loan nói: “Khi chúng tôi khởi sự  năm 1957 thì ai cũng cười. Anh làm được gì khi thiếu dữ kiện? Anh có bao nhiêu nước? Dân số ra sao? Chúng tôi dự đoán nhiều điều và nay cũng khá gần với thực tế. Đập Pa Mong đang trở thành một hiện thực. Không còn ai cười chúng tôi nữa.”

Pa Mong, Stung Treng, Sambor: làm sao có thể hoạt động đồng thời và tận dụng tối đa con sông Mekong? Làm sao thiết kế để cùng đem lại hiệu quả. Hệ thống điện toán IBM đã hoạt động. Chuyên viên Mỹ và Pháp đang hướng dẫn cho các thảo chương viên Thái và Lào. Các nhà kinh tế đang khảo sát kỹ tường trình của các nhà địa chất. Nhiều chuyên viên rất quan tâm là các đập sẽ ảnh hưởng trên môi sinh ra sao? 

 

Chặng chót tôi tới Nam Việt Nam. Một người Mỹ cho tôi biết về viễn cảnh của vùng ĐBSCL. “Đó là nơi mà Việt Cộng kiểm soát và có ảnh hưởng. Với 5500 dặm chiều dài những mạng lưới sông rạch, thật khó khăn để mà hành quân nơi đó.” Chánh phủ Nam Việt Nam gọi đó là Vùng 4 Chiến thuật, một diện tích lớn hơn Hòa Lan, khoảng 6 triệu dân với nhiều tôn giáo đặc thù của vùng châu thổ. Theo những chuyến bay quân sự tôi đã thấy những cảnh tượng khá kinh hoàng: cả một vùng xanh phẳng mênh mông đan giữa nhưng kinh rạch lớn nhỏ, giống như trong một mạng nhện khổng lồ. Cảnh đồng quê thì trụi lá vì thuốc khai quang; khắp nơi đầy những hố lớn nhỏ do bom B-52 hay đạn trọng pháo. Ủy Ban Sông Mekong đang làm gì ở đây? Giải quyết  một vấn đề xưa cũ là có quá nhiều nước. Hay đổi dòng những con kinh lớn để có thể thoát nước vào vịnh Thái Lan và giải quyết đất bị úng thủy. Giải pháp này đã có hiệu quả thời đế quốc Phù Nam xưa. Giải pháp nào cũng nhằm giảm thiểu độ xâm nhập của nước mặn từ Biển Đông. Trong mùa khô khi lưu lượng con sông Mekong xuống thấp, nước mặn có thể lấn vào tới nửa phần châu thổ. Nhưng bây giờ thì chẳng có kế hoạch nào được thực hiện khi mà sự di chuyển của viên chức chánh phủ và người ngoại quốc hoàn toàn bị hạn chế.

Ngày cuối cùng, tôi xuôi dòng một con kinh trên chiếc thuyền máy. Chúng tôi hướng về Hàm Luông nơi nhánh con sông Mekong đổ ra biển. Những đàn cá nhỏ nhảy lên rồi ngụp xuống trông giống như những con cá heo tí hon. Thuyền máy của chúng tôi tạo nên những sóng lớn như muốn làm chìm chiếc thuyền tam bản nhỏ của một cặp vợ chồng già. Tôi bảo thuyền máy dừng lại và nói lời xin lỗi với ông ta. Tôi hỏi chúng tôi có làm ông sợ không? Ông nói: “Tôi sợ khiếp đến bao hồn vía bay đi đâu mất.” Ông già giải thích: “Nơi đây chúng tôi tin đàn ông có 7 vía còn đàn bà thì có 9 vía. Tôi không thể giảng cho ông là tại sao nhưng chúng tôi tin là như vậy.”

Tôi vẫy chào từ biệt. Và trong lòng thầm ao ước có một ngày nào đó người Việt khỏi phải sợ hãi thần linh trên con sông Cửu Long, cả đám cư dân vùng Đông Nam Á sẽ có được hạnh phúc. Liệu ngày đó có tới không? Tôi thì muốn tin là sẽ có một ngày như vậy.

 

MEKONG TRONG THỜI BÌNH 1993

Hai mươi lăm năm sau Peter White  (1968-1993), một của ký giả khác báo National Geographic (02- 1993, Vol.183, No.2)  đã thực hiện một chuyến xuôi dòng sông Mekong trong thời bình. Sau đây là trích đoạn những trang ký sự của Thomas O’Neill qua chuyến đi ấy.

 

Mục đích của tôi là đi suốt theo chiều dài sông Mekong. Con sông bắt đầu đâu đấy trong vùng núi tuyết và kết thúc ở khoảng 2600 dặm nơi vùng biển ấm Nam Hải. Tôi biết rằng đây là một cuộc hành trình dài và khó khăn.

Để tới được nơi đây, tôi đã phải băng qua hàng ngàn dặm trên một chiếc xe Jeep nhà binh cũ từ  Tây Ninh / Xining, thủ phủ của tỉnh Thanh Hải / Qinghai Trung quốc. Những con đường thô sơ gập ghềnh leo cao, cao lên mãi tới 15 ngàn bộ tới không còn một con đường nào nữa ngay biên giới phía bắc của Tây Tạng. Nơi ấy trên một con sông đóng băng. Tôi và nhiếp ảnh gia Mike Yamashita đến dựng lều cạnh đó.

Đám người du mục mời chúng tôi sang lều họ. Tôi gặp Meiga, và người vợ là Daji, tóc để dài trang sức với vỏ sò và những mảnh kim loại, thêm sáu đứa con và cả người anh vợ tuổi  đã cao móm hết cả răng.

Chúng tôi hỏi Meiga về cội nguồn con sông Mekong. Anh vừa nhúm thêm lửa bằng những miếng phân bò khô vừa nói: ““Có hai nguồn, một từ núi cao trên đỉnh băng giá; không có một ai được đặt chân tới đó, còn một nguồn thì ở phía sau ngọn núi thiêng.”

Hôm sau, người và ngựa chúng tôi tới được một ngọn đồi cô quạnh hình tháp nhọn. Meiga bảo: “Đây là ngọn núi thiêng,” anh ta moi từ  chiếc túi bên hông ngựa một bó giấy màu có in những dòng kinh Phật. Anh reo vui tung cao những trang kinh và hân hoan nhìn chúng cuốn theo chiều gió.  Và cũng đến lượt tôi hân hoan reo hò khi chúng tôi tới được phía sau ngọn núi và thấy một dải băng dài cỡ 300 thước Anh có hình thù thắt lại như thứ đồng hồ cát. Nghiêng cúi xuống mặt nước đá, tôi có thể nghe tiếng nước chảy róc rách. Đó là chính những âm tiết đầu tiên của con sông Mekong. Và tôi cũng khám phá ra rằng, tôi và Mike là những nhà báo Tây phương đầu tiên được nghe thấy những âm thanh ấy.

 

TRUNG QUỐC VỚI  SÔNG LAN THƯƠNG: Từ nguồn, con sông Mekong chảy ngót một nửa chiều dài trên lãnh thổ Trung Quốc, rồi qua Miến Điện, đi xuống các nước Lào, Thái, Cam Bốt và Việt Nam. Chết chóc và khổ đau như  là định mệnh của vùng đất ấy.  Con sông Mekong vẫn như còn tự do và hoang dã, vẫn di chuyển với nhịp độ của thuở xa xưa: mùa mưa, mùa nước lũ, với con nước tô bồi đất đai và nuôi sống những người dân quanh đó. Nhưng đồng thời tôi cũng khám phá ra rằng tình hình đang có những đổi khác. Sau nửa thế kỷ của bom đạn, đây cũng là lần đầu tiên trong vùng im tiếng súng. Các chánh phủ bấy lâu vẫn cô lập cùng với đám dân chúng nghèo khổ của họ, thì nay bắt đầu mở cửa biên giới, tìm đầu tư ngoại quốc để phát triển. Con sông Mekong có vai trò trong đó, nó sẽ bị khai thác biến đổi, hết còn hoang dã, cũng kéo theo sự thay đổi của đám dân cư sống trong vùng.

Khúc sông Mekong bị mất hút khoảng 500 dặm. Các viên chức Trung Quốc cấm chúng tôi đi xuyên qua Tây Tạng và một phần ba phía bắc tỉnh Vân Nam. Họ bắt chúng tôi phải đi vòng, sau này tôi mới hiểu được rằng họ không muốn người ngoại quốc chứng kiến những địa điểm đóng quân hay những phong trào chống đối có thể bộc phát ra ở trong vùng nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng.

Khi bắt đầu đi tiếp cuộc hành trình từ phần đất Vân Nam, tôi mới nhận ra rằng thật khó mà đi dọc theo dòng sông Mekong. Không có đường xá để đi tới đó. Có vài con đường mòn tới gần con sông nhưng thường là kết thúc trên bờ vực nhìn xuống con nước chảy xiết.  Chúng tôi chạy xe theo những con đường hẹp bao quanh bởi các lũy tre. Người tài xế đôi khi phải chạy chậm lại khi gặp những người thợ săn đi chân đất với súng kíp băng qua.

Rôài bất chợt hiện ra trước mắt chúng tôi là bức tường thành kiên cố cao 35 tầng nhô lên từ lòng con sông chạy giữa hai ngọn núi.  Phía trước và sau là chằng chịt các giàn gỗ với li ti hình dáng những công nhân đang xây cất đập. Với những ống dẫn nước cao 40 bộ đục qua khe núi, dòng sông trông thuần lành như con chó bị cột xích đưa vào ống dẫn để rồi bất chợt thoát ra vẫy vùng sủi bọt khi không còn bị giam hãm. Đây là con đập Mạn Loan sẽ hoàn thành vào năm 1995 với dự trù sẽ cung cấp 1,500 Megawatts cho các khu mỏ và kỹ nghệ Vân Nam. Wan Long, viên giám đốc công trường nói: “Con sông này giống như khu hầm mỏ giàu có với lưu lượng nước khổng lồ.” Trong khoảng ba thập niên tới Trung Quốc hy vọng xây thêm tám đập nữa trên sông Mekong để tạo sức bật phát triển cho các vùng kém mở mang như hiện nay. Các đập chứa sẽ trải ra như những bậc thềm khoảng 300 dặm từ biên giới Hoa-Lào ngược lên phía bắc.

 

QUA KHU TAM GIÁC VÀNG: Rời khỏi lãnh thổ Trung Quốc, tới khu Tam Giác Vàng, từ đây con sông Mekong lao về hướng đông, sâu trong các khu rừng rậm cao nguyên nước Lào và mang vẻ hoang dã trở lại. Vương quốc Lào có diện tích bằng nước Anh nhưng dân số chỉ có 4 triệu rưỡi người sống nghèo nàn cô lập trong các vùng núi non và rừng rú rậm rạp.

Từ 1975, Lào bị cai trị bởi đảng Cộng sản Pathet Lào và gần đây có chủ trương theo một đường lối bớt cứng rắn. Khúc sông tiếp giáp với biên giới Thái được mở trở lại; với quy chế mậu dịch tự do và cho phép nhận đầu tư  từ nước ngoài.

Một trong số ít nơi trên con sông Mekong mà nhà nước Lào cho phép tôi được thăm viếng là bờ sông phía bắc với vô số những tượng Phật trong hang Pak Ou cách cố đô Luang Phrabang 22 dặm về phía bắc. Khoảng 100 dặm xuống xa hơn nữa là thủ đô Vạn Tượng, với dân số khoảng 125 ngàn. Đa số nhà cửa chỉ có một tầng. Theo dọc con sông vào những buổi sáng, hàng đoàn thuyền nhỏ di chuyển trên sông giữa Vạn Tượng và bến cảng Nong Khai phía Thái. Cảnh sinh hoạt như vậy bắt đầu từ năm 1989 khi có chính sách mậu dịch tự do. Và rồi chiếc cầu Mittaphap nối liền hai nước sẽ được hoàn thành vào năm 1994.  Các chuyên gia thì tin rằng một thứ mà Lào có thể bán ra ngoại quốc là thủy điện. Ủy Ban Sông Mekong đã đưa ra kế hoạch xây cất 4 đập thủy điện khổng lồ trên sông Mekong.  Đập Pa Mong cách 12 dặm về phía bắc Vạn Tượng, là dự án đầu tiên được cứu xét với ngân khoản chi phí lên tới 2.8 tỉ MK. Hồ chứa của đập sẽ dìm trong đáy nước một vùng đất đai và nhà cửa của 60 ngàn dân cư. Một viên chức Lào trong Ủy Ban Sông Mekong cho tôi biết là: “Chưa có một quyết định nào về con đập Pa Mong. Thật khó cho chúng tôi khi phải xuất cảng nông phẩm hay gỗ nhưng cũng thật dễ dàng để xuất cảng điện để chúng tôi có thêm ngoại tệ.”

Con sông Mekong rời khỏi Lào bằng một đoạn ghềnh thác mạnh mẽ sủi bọt rất ngoạn mục có tên là Thác Khone chạy dài khoảng 6 dặm.

 

KHÚC SÔNG QUA NHỮNG CÁNH ĐỒNG CHẾT: Khi chảy vào lãnh thổ Cam Bốt, con sông Mekong mất vẻ căng thẳng hùng vĩ  mà trải rộng mênh mông từ 2 tới 3 dặm chiều ngang. Cảnh trí bằng phẳng, lại được cộng thêm các nhánh sông Kong, San, Srepok, Krieng làm tăng thêm lưu lượng nước cho dòng sông. Mùa mưa đã qua đi, và cũng là bắt đầu mùa trồng trọt. Cá bắt đầu di chuyển về hướng bắc hàng năm. Từ trong làng, những đàn ông đàn bà lội xuống nước vợt cá bằng những chiếc lưới tay. Những con cá nhỏ ánh bạc vùng vẫy trong lưới. Dân làng thích thú la lên: “Bây giờ thì cả cua và ếch cũng ngon hơn trước.” Bị cuốn hút vào khung cảnh thiên nhiên ấy, không còn ai nhớ tới súng AK hay cả Khmer Đỏ nữa.

 

Nam Vang là thành phố có 950 ngàn dân, cũ kỹ và nhếch nhác như như một vật bỏ ngoài mưa quá lâu. Một chiếc cầu gẫy xập trong một trận đánh từ năm 1972 nay vẫn nguyên vậy. Bến cảng với những cần trục hoen rỉ và chẳng có hàng hóa gì để chuyên trở.  Từ 1991, chánh phủ hiện tại cũng không còn rêu rao tự nhận là Cộng Sản nữa và đã có những dấu hiệu thay đổi. Ông hoàng Sihanouk được dân chúng yêu mến cũng đã trở lại hoàng cung. Một chiếc tàu hàng lớn của Tân Gia Ba bỏ neo để đưa vào những chiếc xe hơi mới của Nhật. Tại khách sạn Cambodiana mới xây, các doanh nhân từ các xứ Á châu khác đổ tới đây để tìm cơ hội làm ăn.

 

VIỆT NAM VỚI CHÍN CON RỒNG SÁNG: Vào tới Việt Nam, con sông bắt đầu trở nên thật phong phú, gồm hai nhánh chính mà người Việt gọi tên là Sông Tiền và Sông Hậu, cả hai chảy qua một vùng châu thổ rộng khoảng 15,500 dặm vuông, mênh mông và ẩm thấp, tại đây con sông lại chia thêm nhánh, gồm bảy nhánh chính trước khi đổ ra Biêån Đông. Còn hai nhánh nữa đã bị lấp khuất từ nhiều năm nhưng người Việt nam vẫn giữ con số 9 như con số hên nên vẫn gọi là Cửu Long.

Còn vô số những sông lạch chằng chịt, chiều dài của thủy lộ này lên tới 2000 dặm, gần bằng chiều dài của chính con sông Mekong. Việt Nam là quốc gia đông dân nhất Đông Nam Á và khoảng 1/5 của dân số 70 triệu sống trong vùng ĐBSCL, đứng hàng thứ ba trên thế giới về xuất cảng lúa gạo.

Sáng hôm sau tới được Tràm Chim, được bảo trợ bởi Hiệp Hội Bảo Tồn Hoa kỳ. Ở đây tôi đã thấy được một số kết quả trong nỗ lực phục hồi ấy. Cùng đi với tôi là nhà nghiên cứu chim Võ Quý thuộc đại học Hà nội. Chiếc ghe  của chúng tôi đi lách giữa những lùm lau sậy rậm rạp, gây động khiến những con diệc xám hốt hoảng phải cất cánh tung bay. Võ Quý chỉ vào một đàn vịt đang bay qua trên đầu, rồi vểnh tai lắng nghe tiếng con chim bói cá. Tôi phải thốt lên: “Thật tuyệt đẹp.” Võ Quý bảo nếu tôi trở lại đây trong vòng 2 tháng nữa, tôi có thể thấy những đàn hạc bay tới từ hướng đông, đó cũng là đàn di điểu cuối cùng của vùng Đông Nam Á. Bấy giờ có hàng ngàn những con sếu đầu đỏ sống trong Tràm Chim, hàng ngày đi kiếm thức ăn chủ yếu là cá. Võ Quý còn nói thêm: “Với người Việt, thì giống hạc là biểu tượng cho tuổi thọ.”

 

Từ Cà Mau, tôi chỉ còn cách biển khơi khoảng 35 dặm. Ban đầu tôi muốn được ra biển bằng một con tàu nhổ neo từ Cần Thơ nhưng tôi đã bị chính quyền từ chối. Bây giờ thì tôi thử thực hiện dự định ấy nhưng là khởi đi từ Cà Mau. Người thông dịch và cũng là người canh chừng tôi, chuẩn bị chiếc thuyền gỗ chạy bằng một máy kéo. Chúng tôi đi xuyên qua khu rừng U Minh, đã trơ trụi trong thời chiến tranh; được trồng trọt lại nhưng nay lại trơ trụi vì vô số thuyền bè tới đây để đốn củi.  Xa hơn về phía nam, từng mảng rừng bị đốn quang, và người ta đào hào để nuôi tôm: loại tôm xú lớn sản xuất không đủ để cung cấp cho Nhật Bản.

Đi về phía Năm Căn, tôi ngửi thấy mùi muối trong không khí và cả nếm thấy vị mặn trong những hạt nước nhỏ tung tóe nơi đầu mũi thuyền. Trước khi ra biển, dừng lại trước đồn công an kiểm soát, bốn viên công an bước xuống thuyền cho biết chúng tôi không được đi tiếp và cũng không giải thích tại sao. Tôi bất bình nhưng không ngạc nhiên. Du hành trên sông Mekong ngay từ chặng đầu tiên đã là chuyện rủi may. Nước nào cũng hạn muốn hạn chế người Tây phương tới với con sông Mekong. Họ cảm thấy bất an khi con sông dũng mãnh ấy như không thể kiểm soát được.

Trở về Cà Mau vào buổi chiều tà, với những con dơi lớn bay trên nền trời xám. Những con diệc kiếm ăn đêm thì bay về phía những đồng lầy. Chẳng mấy chốc chúng tôi lại chen lách trở lại giữa đám ghe thuyền của những người đi đánh cá, đốn củi, người đi họp chợ và cả các em học sinh: tất cả lại cùng chan hòa vào nhịp điệu thân thuộc bấy lâu của con sông Mekong.

 

MEKONG THỜI ĐỔI MỚI  2002

Chín năm sau Peter White (1993-2002), tác giả Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch đã thực hiện một chuyến xuôi dòng sông Mekong trong thời đổi mới. Sau đây là trích đoạn những trang ký sự của Ngô Thế Vinh qua chuyến đi ấy.

 

Trung Quốc là một đất nước vĩ đại được hiểu theo nhiều ý nghĩa. Chỉ riêng tỉnh Vân Nam cũng đã lớn hơn Việt Nam, diện tích 394,000 km2 dân số chỉ có 35 triệu, so với Việt Nam dân số đông hơn gấp đôi.

Từ cửa máy bay nhìn xuống, Côn Minh mang vóc dáng của một thành phố lớn Âu Mỹ.

Ở cao độ 2,000 mét trên mặt biển, từ một Côn Minh cũ kỹ, bụi bặm và cả rác rưởi thì nay là một Côn Minh rất khác. Đường rộng và đẹp với những vồng hoa tươi đủ màu. Sự sạch sẽ trên các đường phố là điều  đáng ngạc nhiên. Đi thăm thủ phủ Côn Minh, thăm cả một vài góc phố hiếm hoi của một Côn Minh cũ với những căn nhà mái cong mang nhiều dấu vết rêu phong của thời gian. Không xóa hết, có lẽ đây là phần người ta còn muốn giữ lại như một tương phản giữa truyền thống và canh tân.

Thời gian của chuyến đi Vân Nam thì hạn hẹp, với mục đích rõ ràng là đến với khúc thượng nguồn con sông Lan Thương.

Qua câu chuyện trao đổi với người tài xế, được biết Wu người gốc Hán tốt nghiệp đại học 4 năm, là giáo viên dạy toán, một vợ một con nhưng lương ít. Với cơ hội của một Trung Quốc mở cửa, Wu bỏ nghề giáo chuyển sang nghề lái taxi, lại có vốn liếng tiếng Anh nên có thể đồng thời hướng dẫn du khách. Wu tự tin, bày tỏ mạnh dạn về các vấn đề chánh trị và xã hội của Trung Quốc. Chẳng hạn: Đài Loan dứt khoát là một tỉnh của Trung Quốc, không còn gì để phải tranh cãi. Mao Trạch Đông thì vẫn được kính trọng. Đặng Tiểu Bình được nhân dân Trung Quốc biết ơn vì mở ra một thời kỳ phát triển và thịnh vượng cho nước Trung Hoa. Thế còn chủ tịch Giang Trạch Dân?  Cũng vậy thôi, ông ta quá mềm yếu nhất là với Mỹ khiến nhân dân Trung Quốc giận dữ.  Không quá ngây thơ để không nghĩ rằng những tài xế taxi hay hướng dẫn du lịch lại chẳng liên hệ gì tới công an, do đó tôi chỉ đưa ra những câu hỏi hồn nhiên chứ dứt khoát không để mở ra cuộc tranh luận.

Đêm đầu tiên ở Vân Nam, nhìn ra từ tầng lầu 9 của khách sạn Holiday Inn, trước mắt là cả một “Côn Minh rực sáng” dĩ nhiên với nguồn điện từ con đập Mạn Loan,  đập thủy điện đầu tiên trong chuỗi 14 con đập bậc thềm trên khúc thượng nguồn sông Mekong. Côn Minh ngày nay như biểu tượng phát triển của Vân Nam, nhưng bằng cái giá nào phải trả cho cư dân nơi ĐBSCL và các quốc gia hạ nguồn thì vẫn còn là một ẩn số.

 

CON ĐẬP LỊCH SỬ:  Mạn Loan là con đập thủy điện lớn đầu tiên của Vân Nam với công suất 1,500 Megawatt nằm ngay khúc giữa con sông Lan Thương. Phải nói là con đập Mạn Loan đã đóng một vai trò quyết định trong kế hoạch điện khí hóa, kỹ nghệ hóa,  đô thị hóa cả một vùng tây nam Trung Quốc từ kém phát triển đã mau chóng tiến kịp và sánh vai với các tỉnh trù phú miền đông và đông  bắc.

Tháng 5 năm 1986, công trình đập Mạn Loan được khởi công và việc đổi dòng con sông Mekong được hoàn tất vào tháng 10 năm 1987. Con đập cao tới 99 mét chắn ngang khúc sông giữa hai ngọn núi với bức tường thành cao tới 35 tầng.  Đơn vị phát điện đầu tiên bắt đầu sản xuất điện từ ngày 30 tháng 6 năm 1993 và chỉ hai năm sau đó, ngày 28 tháng 6 năm 1995, tất cả 5 đơn vị phát điện cùng hoạt động đúng theo như  giai đoạn 1 của dự án.

Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây một sự kiện đáng ghi nhớ và gây nhiều tranh cãi là vào giữa năm 1993, xảy ra một hiện tượng được coi là bất thường: mực nước con sông Mekong phía hạ lưu đột ngột tụt thấp xuống mà không vào mùa khô, chỉ lúc đó người ta mới được biết là Trung Quốc đã xây xong con đập Mạn Loan và đó là thời điểm bắt đầu lấy nước từ con sông Mekong vào hồ chứa và họ cũng chẳng thèm thông báo gì cho các quốc gia dưới nguồn.  Sau biến cố đó phải nói là càng ngày càng có mối lo âu về ảnh hưởng của chuỗi đập bậc thềm Vân Nam. Mối quan tâm  đó càng ngày càng gia tăng do nguyên nhân thiếu hẳn nguồn thông tin cung cấp bởi Trung Quốc.  

 

Thiết kế và xây dựng xong con đập Mạn Loan đầu tiên được kể là “một hoàn tất có tính cách lịch sử”, đã khiến cho Phân bộ Điện lực Vân Nam thấy rõ tiềm năng thủy điện phong phú của con sông Mekong  là rất phù hợp cho những nhà máy thủy điện khổng lồ khác có công suất lớn với mạng lưới dẫn cao thế.  Tiến tới xây dựng thêm các đập thủy điện bậc thềm trên sông Mekong là tạo sức bật cho các bước phát triển kinh tế và xã hội không chỉ riêng cho tỉnh Vân Nam mà còn hoàn tất một “chiến lược chuyển điện từ Vân Nam tới các tỉnh khác của Trung Quốc”.

 

Ngày thứ ba ở Vân Nam đã thực sự  là một ngày đáng ghi nhớ. Buổi sáng sớm khởi hành từ Côn Minh để đi khoảng 500 cây số đường bộ về hướng nam, đi về nơi hoang dã để tìm kiếm một địa danh mà chính người tài xế hướng dẫn cũng chưa hề đặt chân tới.

Ra khỏi Côn Minh đi theo Con Đường Tốc Hành về hướng tây. Đây là một xa lộ mới rất tối tân nối Côn Minh với cổ thành Đại Lý. Là một con đường ngoạn cảnh thật đẹp với núi đồi và thung lũng một màu xanh, qua các làng mạc với những căn nhà tường gạch đỏ mái xám cong, thỉnh thoảng lại vượt nhô lên nóc của một ngôi thánh đường Hồi giáo. Vân Nam rồi Tân Cương  vẫn là những tỉnh có đông người gốc Hồi giáo người Hán gọi họ là Hui có gốc gác từ thế kỷ thứ 13 khi quân Mông Cổ xâm lăng Trung Quốc, với thường xuyên những cuộc nổi dậy, họ được coi là cội nguồn bất an của Trung Quốc.

Chạy khoảng hơn 150 km trên Con Đường Tốc Hành về hướng Đại Lý, sau đó xe rẽ sang quốc lộ 214 đi về phương nam, hướng tới con đập Mạn Loan.

Trên đường về hướng nam, mỗi khi tới một ngã ba, Wu phải dừng xe để hỏi đường. Dân địa phương có người không biết đến tên Mạn Loan, có người biết thì cũng không rõ ở đâu. Xe chạy qua những làng mạc, những thửa ruộng lúa chín vàng. Mỗi gia đình nay được sở hữu một khoảnh ruộng riêng, chẳng cần thi đua bình bầu nhưng ai cũng làm hết sức mình. Xây được nhà mới, có thêm được chiếc tủ lạnh hay TV hay không là do chính bàn tay tạo dựng của họ.

Trẻ con thì ăn mặc lành lặn cắp sách tới trường đi học, không có cảnh trẻ đi chân đất như  ở ĐBSCL. Trai hay gái thì tôi hiểu rằng đây là “những đứa con độc nhất” trong mỗi gia đình. Mà người Trung Quốc như từ bao giờ, vẫn thích đông con. Kiểm soát dân số để phát triển, cưỡng chế cả 1.2 tỉ người Trung Quốc “mỗi gia đình chỉ có một con”  không phải là điều dễ làm nếu không phải là một nhà nước toàn trị.

Đến xế trưa, được kể là qua được một nửa chặng đường, đoạn đường tương đối dễ đi.  Bây giờ mới là lúc xe leo đèo, trước mặt chỉ  còn là một con đường “độc đạo”, cứ hết lên triền cao lại xuống lũng sâu. Đường thì hẹp nhưng xe nào cũng muốn thênh thang chạy giữa con lộ, như không hề biết có xe ở phía trước, nhưng khi đối đầu nhau rồi thì chỉ còn là gang tấc. Yếu bóng vía mà lại còn nhìn xuống lũng sâu thì chẳng còn bụng dạ nào để muốn đi tiếp cuộc hành trình chưa biết bao giờ sẽ tới ấy.

Như Đi Về Nơi Hoang Dã, chỉ thấy một màu xanh um của những khu rừng mưa trên các triền núi và cũng hiểu vì sao ít có người dân Vân Nam biết tới con đập Mạn Loan. Những cột điện thật lớn với hàng dây cáp cao thế giăng qua những sườn núi là dấu hiệu cho thấy chúng tôi đã tới gần con đập. Vẫn còn những đoạn đường vỡ mà chiếc xe phải vất vả vượt qua. Xe chạy qua một thác nước nhỏ rào rào đổ xuống từ triền núi cao, những hạt bụi nước trắng chỉ đủ làm ướt mặt con lộ. Từ đây, nhìn xuống thung lũng chạy giữa hai dãy núi là thấy cả một hồ chứa lớn của con đập Mạn Loan phản chiếu ánh nắng lấp lánh. Còn quá xa để nhìn thấy chi tiết đâu là con đập.

Qua một làng núi nhỏ, xe bắt đầu đổ dốc theo một con đường hẹp để đi vào một thung lũng. Ngăn cách bởi những bụi rậm, nhưng khi nghe tiếng nước rì rào chảy là biết tới gần dòng sông. Rồi con sông hiện ra, nhìn ngược dòng chảy tuy còn khá xa nhưng đã có thể thấy được bóng dáng  của con đập. 

Còn phải qua một cây cầu sang bên tả ngạn mới thực sự đi vào khu công trường của nhà máy thủy điện Mạn Loan. Ngay nơi đầu cầu là một cột mốc lớn với 2 hàng chữ :  

Yunxian – Manwanzhen [Vân Huyện – Mạn Loan Trấn]. Hai bên đường là những căn nhà nhỏ, nhà ở xen lẫn vài tiệm tạp hóa và mấy quán ăn. Nơi cổng vào có trạm lính canh, trên bức tường thành là một bảng hiệu uy nghi với hai hàng chữ Hán và Anh sáng chói “Yunnan Manwan Power Generating Co. Ltd”. Nơi mặt tiền là những tòa nhà công sở nhiều tầng lớn khang trang; sâu hơn vào phía trong là câu lạc bộ công nhân, khu cư xá nhân viên gồm những tòa nhà 3-4 từng trên lưng đồi. Có cả một nhà nghỉ điều hành như  khách sạn  dành cho cho khách vãng lai. Wu không gặp khó khăn gì để thuê 2 phòng trong khách sạn, phòng trên lầu 4 , qua cửa sổ phía sau có thể nhìn xuống một khúc sông Mekong.

Không biết sẽ được lưu lại nơi đây bao lâu, tuy còn rêm mình sau một chặng đường dài nhưng tôi vẫn bảo Wu lái xe đưa chúng tôi đi một vòng. Trong ráng chiều, ánh sáng không phải là lý tưởng cho những bức hình đẹp nhưng với tôi thì đây là cơ hội hiếm hoi và duy nhất để thu hình con đập – một  nơi mà trước khi đi, tôi không nghĩ là có thể đặt chân tới.  Xe chạy dọc theo bờ sông bên hữu ngạn, khoảng 4-5 giờ chiều có lẽ vào giờ nghỉ nên khá vắng, cơ hội là khoảng trống ấy, nên tôi đã chụp hình rất nhanh và tối đa các landmarks của khu đập Mạn Loan. Bên một bờ sông cao, phía dưới là dòng sông nước chảy, tôi cố gắng tới gần nhất chân con đập.

Tôi hiểu rất rõ một điều là cho dù với Trung Quốc đã mở cửa nhưng bản chất vẫn là “một nhà nước toàn trị”. Vẫn có những hạn chế về thông tin và truyền thông trong đó vấn đề thu thập các hình ảnh, nhưng mức độ nghiêm ngặt tới đâu thì cũng rất biến thiên tùy theo thời gian, địa điểm và nhân sự, phải kể cả sự may mắn của mỗi nhà báo. Chính thức không được chụp hình là các căn cứ quân sự rồi tới các hải cảng, phi trường, nhà ga và cả những cây cầu trọng điểm. Với con đập thủy điện như  Mạn Loan thắp sáng cả Vân Nam, được quân đội bảo vệ, hiển nhiên phải được coi như một căn cứ quân sự chiến lược.

Biết là như vậy nhưng chính những con đập thủy điện, những cây cầu trên khúc sông Mekong nơi thượng nguồn với tôi lại là mục tiêu chính của chuyến đi Vân Nam lần này. Nên ngoài hành lý rất gọn nhẹ, hành trang chính là hai chiếc máy hình với  rất nhiều phim vận tốc cao. Cũng phải kể thêm cả sự lạc quan nhưng đồng thời cũng chuẩn bị cho những tình huống tệ hại nhất: có thể sẽ ra về với tay không và cả những hệ lụy có thể xảy ra với những gán ghép thì sẽ rất hàm hồ .Với 2 cuộn phim, tôi nghĩ là đã tạm đủ cho những giờ đầu tiên đến với con đập Mạn Loan ấy.

 

Trở lại khách sạn, được chỉ đường tới Câu Lạc Bộ Công Nhân, nơi chúng tôi có thể dùng bữa ăn chiều. Khu nhà ăn tập thể sạch sẽ khang trang. Vào giờ ăn, công nhân hay kỹ sư, tất cả đều rất trẻ và ngồi chung bàn; sự khác nhau về nghề nghiệp có thể nhận ra được trên nét mặt  của họ. Thêm một người bước vào phòng ăn, tay cầm một chiếc tô bằng sắt tráng men trắng, khuôn mặt trẻ ánh mắt  thông minh với cặp kính cận.

Như một  flashback, chiếc tô bằng sắt tráng men đi lãnh cơm bỗng chốc gợi lại cho tôi cảm xúc của những ngày tù cải tạo ở quê nhà, cũng ba năm chứ ít sao. Tôi bảo Wu nên ra ngoài kiếm một quán ăn nhỏ nào đó dưới phố.

Đó là một quán không bảng hiệu, chỉ vỏn vẹn có mấy chiếc bàn và ghế gỗ nhưng phía sau nhà là nhìn sâu xuống một bãi cát và nước con sông Mekong. Con sông vẫn rì rào chảy, nhưng không còn cuộn sóng và như kiệt sức sau khi bị giam hãm trong hồ chứa và rồi chảy qua những turbines khổng lồ 675 tấn của con đập Mạn Loan.

Phía bên kia bờ sông là núi cao với rừng xanh còn phủ kín. Mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Lại một hoàng hôn khác trên sông Mekong.

 

TỪ MẠN LOAN TỚI ĐẢNG ỦY CÔN MINH:  Bề ngoài thì như  bình thản, nhưng tôi không cảm thấy an tâm để lưu lại lâu hơn trong khu vực Mạn Loan và có quyết định rời Mạn Loan sáng sớm hôm sau. Wu thì lại quá nhiệt tình nghĩ rằng có thể tổ chức cho chúng tôi vào thăm bên trong nhà máy vì nghe nói vẫn có những tour có hướng dẫn như vậy.

Sau bữa sáng nơi một quán ăn ngay trước cửa cơ quan, mà chủ nhân là người Hồi giáo. Tôi và Wu trở vào khu hành chánh Mạn Loan, tới được nơi cần tới. Cô trưởng phòng khi biết khách thăm là người ngoại quốc thì cô yêu cầu đợi để hỏi ý kiến cấp trên. Mươi phút sau thì một bà mặc áo ngắn, dáng khắc khổ, mà tôi nghĩ là phòng tổ chức bước vào nói chuyện khá lâu với Wu. Bà cho biết những chuyến tham quan như vậy là cho khách nội địa. Vì đây là lần đầu tiên có khách ngoại quốc, bà ta yêu cầu chờ để lên xin ý kiến của Đảng ủy. Wu đã đẩy tôi vào một tình huống thật khó xử và quả thật là thiếu khôn ngoan để dấn thân vào một “guồng máy” bất trắc như vậy. Bà phòng tổ chức vừa bước ra, tôi lấy cớ bảo Wu là sẽ không đủ thì giờ cho thêm một chuyến viếng thăm, nhưng rồi cả hai chúng tôi được giữ lại và yêu cầu chờ. Thật là tiến thoái lưỡng nan, tôi vẫn cố giữ vẻ thản nhiên nhưng cảm giác thì cứ như  “gái ngồi phải cọc” và đồng thời phải chuẩn bị cho tình huống phải trả lời vô số những câu hỏi.

Thời gian như chậm lại, nhưng rồi bà phòng tổ chức cũng trở lại, lần này thì rất lịch sự bà nói chuyện trực tiếp với tôi qua thông dịch của Wu. Rằng Đảng ủy Mạn Loan không trả lời là không, nhưng nếu có lý do thăm viếng chính đáng tôi phải xin phép Đảng ủy Phân bộ Điện lực từ Côn Minh. Bị khước từ nhưng lại cảm thấy nhẹ nhõm, vì với red tape ấy, với hệ thống quan liêu giấy tờ ấy, tôi có thể rời Mạn Loan mà không gặp phiền hà và cũng không hề có ảo tưởng là sẽ trở lại thăm Mạn Loan bằng một giấy phép chính thức của Đảng ủy Côn Minh.

 

NƠI XÂY ĐẬP CẢNH HỒNG: Tới Cảnh Hồng, từ phi trường Banna về khách sạn cho dù “3 sao” cũng chỉ gặp toàn người nói tiếng Hoa. Phải chờ cho tới buổi chiều khi gặp được cô manager, có lẽ người Hồng Kông biết chút tiếng Anh, chúng tôi mới có thể liên lạc với một hãng du lịch. Bên kia đầu dây là Oliver, nói tiếng Anh như một người Hoa sinh đẻ ở Mỹ. Chỉ nửa giờ sau, hắn đích thân tới làm việc với chúng tôi ngay tại phòng khách sạn và cùng hoạch định chương trình cho ba ngày tới: bằng thuyền máy chúng tôi sẽ ngược dòng sông Mekong lên tới địa điểm xây đập Cảnh Hồng, lên thăm một khu cư dân sắc tộc, ngày hôm sau bằng xe tới với các con đập thủy điện phụ lưu dọc theo con sông Cát Vàng, thăm giang cảng Tư Mao và có thêm cả một buổi mai lưới cá trên sông Mekong. Chủ yếu là tới với sinh cảnh của con sông Mekong và những con đập.

 

Sau Côn Minh, lại thêm một ngạc nhiên nữa khi tới thị trấn Cảnh Hồng. Chỉ mới 5 năm gần đây thôi từ 1998, một Cảnh Hồng cũ đã bị san bằng để thay thế bằng một thành phố hoàn toàn mới, với khách sạn nhiều tầng, các cửa hàng bách hóa, có cả thư viện và nhà sách lớn, với những con đường trải nhựa rộng với hai hàng cây xanh và dĩ nhiên là đông đảo người gốc Hán từ các nơi đổ tới. Một năm sau đó 1999, cây cầu mới lộng lẫy Cảnh Hồng do Công ty Xây dựng Cầu đường Thượng Hải hoàn tất như một điểm nối quan trọng của mạng lưới giao thông thuộc Lưu Vực Lớn Sông Mekong. Cây cầu cũ của Liên Xô xây từ 1977 như một sản phẩm kỹ thuật hạng hai, nay bất khiển dụng chỉ dành cho xe đạp và người đi bộ.

 

Buổi sáng sớm, khi mặt trời chưa lên, chiếc ghe máy đã chờ chúng tôi nơi khúc sông Mekong gần cây cầu Cảnh Hồng. Chỉ mới ba tuần lễ trước đây thôi, những cơn mưa lớn Vân Nam đã gây lụt lội và làm chết 12 người. Nay mực nước đã lại xuống thấp, những khối đá lớn nhỏ ven sông đã lại trồi lên. Sông sâu nhưng cũng phải thông thuộc nếu không có thể vỡ ghe vì va vào những tảng đá ngầm. Chiếc ghe máy chạy ngược dòng sông về hướng bắc, nơi sẽ xây con đập thủy điện Cảnh Hồng. Nước sông đỏ màu phù sa, vẫn chảy xiết với cả những vùng nước xoáy. Nhìn những búi cỏ rác khô và cả những túi rác ni lông đủ màu còn vướng trên những cành cây cao mới thấy được đỉnh lũ phải cao hơn mực nước hiện nay từ 3 tới 4 mét. Những túi ni lông chưa bị phân hủy, cũng để thấy rằng con sông Mekong đang là cống rãnh của các chất phế thải kỹ nghệ và cả rác rưởi của tiện dụng gia cư.

Con sông vẫn chảy xiết giữa hai bên là núi cao lại thưa thớt dân cư;  những hẻm núi cao dốc ấy là địa hình lý tưởng để mà xây thêm xây thêm những đập thủy điện. Dự án đập Cảnh Hồng 1,500 MW đã có cùng thời với con đập Mạn Loan, dự trù sẽ được khởi công vào năm 2005. Dù vào thời điểm nào, thì sớm muộn chuỗi đập Bậc Thềm Vân Nam trên dòng chính sông Mekong cũng sẽ được Trung Quốc từng bước hoàn tất do những lợi lộc vô hạn đem lại và sẽ không có thế lực nào có thể cản trở được họ. Điều ấy là chắc chắn.

 

Bây giờ mới tận mắt thấy xuôi dòng sông Mekong là những con tàu lớn chở hàng từ cảng Tư Mao xuống tới tận bắc Thái và Lào. Vào tháng 4 năm 2001, Trung Quốc đã ký một thỏa hiệp về thủy vận trên sông Mekong nhưng chỉ với 3 quốc gia Miến Điện, Thái và Lào với kế hoạch vét lòng sông, cả dùng cốt mìn chất nổ phá tung những khối đá trên các đoạn ghềnh thác, các đảo nhỏ trên sông để khai thông mở rộng đường sông cho tàu lớn trọng tải từ  500-700 tấn có thể di chuyển từ cảng Tư  Mao xuống Chiang Khong Chiang Sean xuống thẳng tới Vạn Tượng. Trong khi Việt Nam và Cam Bốt là hai quốc gia cuối nguồn, trực tiếp chịu ảnh hưởng của kế hoạch ấy thì bị gạt ra ngoài. Hậu quả ra sao thì chưa ai lượng giá được nhưng chắc chắn nhịp độ thiên nhiên điều hòa của dòng chảy sẽ bị rối loạn có ảnh hưởng dây chuyền trên toàn hệ sinh thái sông Mekong.

Mặt trời bắt đầu hồng lên trên đỉnh núi cao nhưng vẫn còn mờ sương. Ngược dòng chảy mạnh, chiếc ghe chạy chậm hẳn lại. Nhưng rồi cũng lần lượt ghé vào từng ghềnh đá nơi có đặt lưới từ qua đêm. Cả thảy 12 chiếc lưới được đặt hai bên bờ ở những khúc sông khác nhau gần nơi sẽ xây con đập Cảnh Hồng. Mỗi chiếc lưới nay được chính tay chúng tôi kéo lên. Mỗi mẻ lưới đều có cá nhưng là những con cá nhỏ, nhỏ hơn cả những con cá lưới được trên khúc sông Vạn Tượng hay nơi khúc sông Tonlé Sap.  

Không nói tới những con cá hiếm quý như  Pla Beuk, Dolphin nhưng ngay cả những con cá lớn quen thuộc của sông Mekong nay ở đâu?  Tôi thì vẫn lạc quan tin rằng còn quá sớm để bảo rằng đó đã là hình ảnh của quá khứ. 

 

CHỈ CÓ MỘT CHỌN LỰA SỰ PHÁT TRIỂN: Khi chiếc Boeing 777 vừa rời Quảng Châu trên đường trở về Mỹ, không hiểu sao một hình ảnh chẳng có gì đặc biệt lại hiện ra rất rõ nét trong trí tôi lúc đó: một tấm bảng hiệu thật lớn trên một con đường quê an bình của Vân Nam, với một bên là làng mạc, một bên là những thửa ruộng lúa vàng, bên cạnh hình ông già Đặng Tiểu Bình là một hàng chữ ngắn thật lớn: Chỉ Có Một Lựa Chọn: Sự Phát Triển. Đó là một thông điệp rất rõ ràng ông Đặng Tiểu Bình gửi tới nhân dân Trung Quốc. Không phải chỉ có phát triển mà phát triển với tốc độ rất nhanh với hình ảnh Trung Quốc bước vào Thế kỷ 21 đang vươn lên như một siêu cường.

Với một số ít người thuộc thế hệ lớn hơn, họ nhìn cái dấu mốc phát triển của Trung Quốc lùi về một thời điểm xa hơn nữa: ngày ông Nixon tổng thống Mỹ đầu tiên tới gõ “cánh cửa sắt khép kín” của Trung Quốc để gặp được chủ tịch Mao Trạch Đông mở ra một kỷ nguyên mới cho nước Trung Hoa.

Phải chứng kiến sự đổi thay mau chóng của cả một vùng tây nam kém phát triển như  tỉnh Vân Nam, không phải chỉ ở những thành phố, dấu hiệu của phát triển và xây cất còn thấy rất rõ cả ở “những thị trấn giữa đường” hai bên quốc lộ. Ruộng lúa thì xanh mơn mởn. Điện tới được cả những căn nhà ở vùng rất hẻo lánh trên các rẻo cao và không phải là không thường gặp trước mỗi hiên nhà ấy một đĩa bắt sóng mới biết trong nhà đã có TV.

Không phải đi theo Tour Route để bảo rằng đó là những hình ảnh mà nhà nước Trung Quốc muốn phô trương. Nói chung, từ thành thị tới thôn quê là hình ảnh những người dân Trung Quốc mặc lành lặn và no đủ. Lo được điều cơ bản  ấy cho 1.2  tỉ dân mà vẫn cứ phát triển, đó phải được kể là một kỳ công nhưng có thể lý giải được vì họ : có chất xám của trí tuệ, có kỹ thuật cao, có lực lượng lao động cần cù và chịu khó, có kỷ luật dù tự nguyện hay không trong một chánh quyền toàn trị, có lòng tự hào và yêu đất nước Trung Hoa của họ

Hiển nhiên  đất nước  ấy không thiếu những khiếm khuyết như bất cứ xã hội nào khác, nhưng trải qua bao kinh nghiệm bi thương của rất nhiều máu và nước mắt, người dân

Trung Quốc ngày nay đã đứng vững trên hai chân của họ để  đi về tương lai.  

Từ Trung Quốc, nhìn về Việt Nam nhỏ hơn cả tỉnh Vân Nam, một đất nước đang vỡ ra từng mảnh, nhìn về Hoa Kỳ ngoài sức mạnh quân sự nhưng ngày càng cô lập và mất quyền lãnh đạo thế giới, cứ theo lẽ thịnh suy, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Trung Quốc. Ở mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc sẽ phải cam chịu hay có một số phận xứng đáng với sự lựa chọn và cách sống của họ.

 

 

TÂM BÌNH

06/2007

 

 

Tham Khảo:

1/ A Pictorial Journey on the Old Mekong. Louis Delaporte/ Francis Garnier. The Mekong Exploration Commission Report (1866-1868)-Vol 3, White Lotus Press 1998

2/ River Road to China, The Mekong River Expedition 1866-1873. Milton Osborne, Atlantic Monthly Press, New York 1975

3/ The Mekong River of Terror and Hope. Peter White, W.E. Garett. National Geographic, Vol 134. No 6, Dec 1968

4/ The Mekong River. Thomas O’Neill, Photographs by Micheal S. Yamashita. National Geographic, Vol 183. No 2, Feb 1993

5/ Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch. Ký sự Ngô Thế Vinh. Văn Nghệ Mới xuất bản 2007