Trang Chính    Hình Ảnh    Hộp Thư    Truyện Thật Ngắn    Bút Ký    Truyện Ngắn    Thơ    Góp Nhặt    Sức Khỏe và Gia Đình    Gia Chánh    Tin Tức    Cùng Tác Giả

Nhân ngày Phật Đản kể chuyện hành hương

đường về tổ đình Vạn Linh trên đỉnh núi Cấm

của vùng Thất Sơn – An Giang

 

Thân kính tặng quí đồng hương đang sống ở xứ người.

Phạm Thăng - Canada.

 

    Đa số dân miền Nam đều nghe tiếng vùng Thất Sơn, tỉnh An Giang, nơi có nhiều núi mà được biết đến nhiều nhất là 7 ngọn  núi: núi Két (Anh Vũ sơn), núi Giài Năm giếng (Ngũ Hồ sơn), núi Cấm (Thiên Cẩm sơn), núi Tượng (Liên Hoa sơn), núi Nước (Thủy Đài sơn), núi Dài (Ngọa Long sơn) và núi Tô (Phụng Hoàng sơn). Ngoài ra còn nhiều núi nhỏ, thấp, mà dân địa phương đặt tên theo hình thể: núi Sam, ở xa trông giống con sam, núi Bà đội om vì có mô đá như hình người đàn bà đội cái om (loại nồi nhỏ của người Miên) v.v. không kể hết.

    Riêng về núi Cấm được truyền tụng là một linh sơn huyền bí. đa số các Ông đạo tu trên núi Cấm đều đắc đạo, và núi mang tên núi Ông Cấm vì có lời đồn đãi: ngày trước lúc Nguyễn Ánh (vua Gia Long) còn phải bôn ba lánh nạn Tây sơn truy kích nên đã trốn trên núi. Để tông tích khỏi tiết lộ, các cận thần bảo vệ cấm dân chúng lên núi, viện cớ trên núi có nhiều yêu quái và mãnh xà ác thú. Đến đời Pháp thuộc còn có các Ông đạo lánh đời vào tu hành, có nhiều tay giang hồ hảo hán vào đó ẩn thân. Núi Cấm càng linh thiêng khi lâu lâu có vị đạo sĩ đem dược thảo núi, hạ sơn cứu độ người đời, trị bịnh đều hết, nên người dân nhìn về núi Cấm với lòng ngưỡng mộ.

    Núi Cấm có những chỏm núi nhô cao được gọi là Vồ. Có 5 Vồ tên: Vồ đầu, Vồ Thiên Tuế, Vồ Ạng Bướm, Vồ Bà, Vồ Bò hong. Các Vồ còn được cac cụ già gọi kính cẩn là Non, nên lúc nhỏ tôi thường được nghe các bà dì, bà mợ thì thầm mong ước:”được viếng năm Non, bảy Núi một lần trong đời, mới vui lòng nhắm mắt”. Tôi ở chợ Châu Đốc không xa Thất sơn bao nhiêu vậy mà chỉ đi đến núi Sam !

    Khoảng 3 năm nay nghe tin trên đỉnh núi Cấm linh thiêng đó đang xây dựng ngôi Tổ đình rộng lớn, hùng tráng với ngôi Bửu tháp 9 tầng cao sừng sửng in lên nền trời xanh và ngôi Bửu thấp vị Tổ khai sơn ngôi chùa lá từ 100 năm trước. Hai bên có lầu chuông, lầu trống. Xây dựng Tổ đình và đặt theo tên ngày xưa là Vạn Linh là theo lời dạy của đại lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, trụ trì chùa Vạn Đức (Thủ Đức), khi Ngài nằm mơ thấy Tổ khai sơn bảo đã đến lúc cất lại ngôi Tổ đình nơi Tổ đã tu ở đây.

    Tổ khai sơn thuộc dòng Lâm Tế, gia phổ đời thứ 40, đệ tử Hòa Thượng Tổ Sư Viện chủ Tổ đình Phi Lai Thượng Chí Hạ Thiện, pháp danh Thích Thiện Quang, húy Hồng Xứng.

    Tổ tên thật là Nguyễn văn Xứng, sanh năm Ất Mùi 1895 tại làng Võng Keo nay là ấp Tân Thuận, huyện Mõ Cày, tỉnh Bến Tre, con Ông Nguyễn văn Chiếu làm Hương Cả trong làng nên mọi người thường gọi là Cả Chiếu và Bà Võ thị Sáng, trong một gia đình phú nông nhiều đời tích đức. Ngài là con thứ năm trong gia đình 7 anh chị em và là con trai duy nhứt trong nhà. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị người Pháp đô hộ, thắm thía nỗi thống khổ của người dân nô lệ, Ngài âm thầm tụ tập bạn bè luyện tập võ nghệ, sau gia nhập tổ chức Thiên Địa Hội, tiền thân là Tổ chức Phản Thanh Phục Minh của Trung Hoa vì bị đàn áp truy đuổi nên tỵ nạn sang Việt Nam và lâu ngày Việt hóa thành Tổ chức chống Pháp.

     Vào thời đó, những gia đình khá giả thường bị người Pháp buộc phải tham gia làm việc trong Ban Hương chức Hội tề, gia đình Ngài cũng không ngoại lệ, cha Ngài làm Hương Cả tục gọi Cả Chiếu, bản thân Ngài là Phó Hương quản, vì vậy mãi đến 24 tuổi, sau khi gia đình thúc ép nhiều lần, Ngài mới lập gia đình. Sau nầy có hai người con: một trai, một gái. Lập gia đình chưa được bao lâu, Ngài sanh bệnh thuốc men khắp nơi không hết. Một hôm có vị Sư cùng quê từ trên núi Két (Thất sơn) về thăm gặp Ngài, bảo: “Muốn hết bệnh lên núi Sư giúp”.

    Khi đó, tổ chức Thiên Địa Hội Ngài tham gia bị lộ nên bị bắt rất nhiều, tuy nhiên mật thám chưa lần ra được Ngài. Lúc đó là năm 1918.  Một hôm trong làng có việc, Hương quản đánh mõ triệu tập dân chúng, Ngài đang ăn cơm nên ra trể, Hương quản bắt lỗi và sẵn cầm dùi đánh Ngài luôn. Ngài giựt dùi đánh lại rồi bỏ ra về. Sự việc nầy xảy ra như giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước, ngày hôm đó Ngài thu xếp gia đình khăn gói lên đường hướng về Thất sơn, Châu Đốc, lánh thân và tìm đến núi Két gặp được vị Sư ngày trước kể rõ sự tình được Sư cho ở lại trị bệnh, sau đó học nghề thuốc, bệnh duyên lần lần giãm. Ở đấy gần gủi chư Tăng, tìm hiểu Phật pháp, vốn sẵn căn lành, Ngài nhận ra cảnh đời vô thường nên trong tâm nhen nhúm chí xuất trần. Thời gian sau thấy yên ổn, Ngài về thăm nhà rồi lại lên, suốt nhiều năm như vậy. Lần hồi đạo tâm ngày càng kiên cố, lại thêm vị Sư khuyến khích, nhưng vì núi Két gần chợ, nên Phật tử thăm viếng thường xuyên nên Ngài có ý tìm nơi khác. Sau nghe trong núi Kỳ Hương có chùa Phi Lai nơi trú xứ của Hoà Thượng Thượng Chí Hạ Thiền, một bậc chân tu đắc đạo, giới đức tinh nghiêm đang giáo hóa đồ chúng rất đông, nên Ngài tìm đến bày tỏ nguyện vọng và được H.T. cho quy  ở lại công quả tập sự. Năm 1925, đầy đủ duyên lành, Ngài được Tổ cho thế phát xuất gia với pháp danh là Thiện Quang, húy Hồng Xứng, nhập chúng tu học. Từ đó Ngài siêng năng tinh tấn học tập Kinh, Luật.

     Ngài vốn người tính tình lặng lẻ, thâm trầm, thích ở vắng lặng ít người lui tới để dễ bề tu tập nên sau mùa An cư năm 1927, Ngài trình bày nguyện vọng và được H.T. cho phép, Ngài lên núi Cấm tìm được một nơi vắng vẻ dưới chưn Vồ Bồ hong, không xa chùa Phật lớn bao nhiêu, cất am nhỏ lợp tranh để chuyên tu. Ngài chuyên trì Chú Đại Bi và niệm danh hiệu Đức Quán Thế Ăm thuần thục đến độ khi ngủ vẫn niệm.

     Sinh thời Ngài có những hành tung kỳ đặc mà người thường khó biết. Trong chùa, việc làm lớn nhỏ, Ngài thường cho biết trước hoặc huyền ký như trường hợp Hòa Thượng Vạn Đức khi gặp Ngài xin quy y thế phát, Ngài đã có những huyền ký về cuộc đời Hòa Thượng mà sau nầy nghiệm lại rất đúng.

    Vào thời kỳ nầy, Hòa Thượng chùa Vạn Đức có duyên đến xin quy y với Tổ. Theo lời Hoà thượng kể cho môn đồ quyến thuộc: “Lúc đó 20 tuổi, tôi tìm nơi để xin tu hành, đi đến chưn núi Cấm có nguyện rằng: “ con đăng sơn khi gặp ngôi chùa nào đầu tiên sẽ xin bái sư, xuất gia”, tôi leo núi, lên mãi, không thấy chùa am nào, mãi đến chiều tối mới gặp am lá của Tổ và cầu xin bái sư xuất gia. Vài tháng sau, có dịp Tổ sai xuống núi, tôi ngạc nhiên sao có nhiều chùa, am, trên đường cheo leo nầy mà lúc đầu không thấy ? Suy luận ra, mới biết là phải có tiền duyên mới gặp Tổ”. Theo lời các vị đồng môn tại chùa kể lại: “Buổi tối cùng ngày đó, Tổ Thiện Quang từ tịnh thất sau núi trở vào chùa, lúc đó Tổ mới bảo đại chúng rằng: “Chú nầy đời trước đã từng làm Hòa Thượng và cho đến đời nầy cũng sẽ tiếp tục làm lợi ích quần sanh.”

      Ngài lại có tài trị bệnh kể cả bệnh tà. Nhiều con bệnh chửa chạy khắp nơi không hết tìm đến, Ngài chửa trị đơn giản bằng thuốc núi. Bệnh tà thì khuyên răn dạy bảo, khi xối nước hoặc mua dầu cúng Phật, vậy mà hết bệnh. Tiếng lành đồn xa nên người tìm đến xin trị bệnh hoặc học thuốc, có khi học đạo rồi cảm ơn đức Ngài, có người phát tâm ở lại làm công quả, có kẻ xin xuất gia. Am tranh chật chội, Ngài cho dựng thêm chánh điện, tăng phòng, kho bếp. Năm 1941 nhờ Phật tử phát tâm ủng hộ, Ngài cho xây chùa với quy mô bề thế nhất núi lúc bấy giờ. Năm 1945, cuộc kháng chiến toàn dân chống Pháp bùng nổ, núi Cấm vốn là nơi hiểm địa, những người yêu nước chọn làm căn cứ chống Pháp. Năm 1946, chánh quyền Pháp hay được nên ra lịnh đuổi xuống núi không kể Tăng hay tục. Vì lẽ ấy, Ngài cùng đồ chúng xuống núi về lánh tạm tại nhà một Phật tử ở Tri Tôn chờ xem tình hình ra sao. Đầu năm 1947 thấy chiến sự ngày càng tăng không hy vọng trở lại núi, Ngài về chùa Linh Bửu, xóm cầu Bông, quận Bình Thạnh, Sài Gòn, theo lời mời của một số Phật tử. Về đây ở trên gác, Ngài cũng tinh tấn chuyên tâm tu tập, không lúc nào ngưng ngớt.

     Ngày 20 tháng 11 năm Quý Tỵ (1953) sau khi dự lễ Thượng lương cho bổn đạo về, Ngài không chịu ăn, chỉ uống nước. Thị giả dâng cơm, Ngài nói: “Ăn cũng vậy, không ăn cũng vậy. Ăn chi, để cho sạch”. Đến ngày 23, đồ chúng lo sợ, mời thầy thuốc đến xem mạch bốc thuốc, Ngài vẫn không uống và nói: “Uống cũng vậy, không uống cũng vậy. Uống chi”. Qua ngày sau, Ngài bảo đại chúng: “Mấy đứa bây chuẩn bị sáng mốt đưa tao về”. Đồ chúng tưởng Ngài muốn về núi nên thưa rằng: “lúc nầy trên núi còn lộn xộn lắm, chưa về được”. Ngài nói: “Thôi mấy đứa bây có giỏi niệm Phật đua với tao”.

     Từ đó Ngài chuyên niệm Phật cùng đại chúng. Đến ngày 26 tháng 11, Ngài ngồi trên giường cùng đại chúng niệm Phật. Sau khi niệm to, đứt quảng: “Nam...mô...A...Di..Đà...Phật...”, Ngài tự nằm ngay thẳng xuống giường như người nằm ngủ. Mọi người coi lại thì Hòa Thượng đã viên tịch. Lúc đó đúng 8 giờ 15 phút sáng ngày 26 tháng 11 năm Quý Tỵ (31-12-1953), trụ thế 59 tuổi. Vì phải chờ môn đồ pháp quyến và thân nhân đến đông đủ nên đến 3 giờ chiều ngày 27/11 mới tẩn liệm mà nhục thân của Ngài vẫn mềm mại, da thịt vẫn như người sống. Sau đó nhục thân Ngài được đưa về nhập tháp ở chùa Vạn Đức, Thủ Đức. Đến năm 1985, dưới sự chỉ đạo của Hòa Thượng Thiện Thanh, trụ trì Tổ đình Vạn Linh đời thứ 2, tổ chức thỉnh nhục thân Ngài về núi nhưng sự việc không thành, đành đưa về thành phố hỏa táng, tro cốt Ngài  được thờ ở Tháp Phổ Đồng chùa Huệ Nghiêm, huyện Bình Chánh.

      Năm 1994, dưới sự chỉ đạo của Đại lão Hòa Thượng chùa Vạn Đức, Thượng Tọa Thích Hoằng Tri được cử về trông coi xây dựng lại Tổ đình Vạn Linh. Một năm sau, Tổ đình được chính thức khởi công đại trùng tu: chánh điện, nhà Tổ, bảo tháp, trai đường, tháp Tổ khai sơn, lầu chuông... Năm 1998 nhằm ngày 24 tháng 11 năm Mậu Dần, Đại lão Hòa Thượng cho tổ chức thỉnh các tượng Phật lên núi đồng thời thỉnh linh cốt Tổ Khai sơn về làm lễ nhập tháp. Như vậy, sau đúng 45 năm, tâm nguyện của Tổ đã viên thành. Sự nghiệp của Ngài đã được hàng môn hạ truyền đăng tục diệm.

     Đến ngày vía Quán Thế Âm 19 tháng 2 âm lịch năm 2000, chùa xây dựng Bảo Các theo mẫu Bồ Đề Đạo Tràng bên  Ấn Độ, gồm 7 tầng không kể tầng trệt và nóc để tôn thờ Xá Lợi Phật và chư vị Đại A La Hán đệ tử Phật. Tính từ trên xuống: tầng trên cao thờ Xá Lợi Đức Bổn sư Thích Ca tượng trưng cho Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, Tầng 2 là Đức Quán Thế  Âm ngồi, tượng trưng Đại Bi. Từng 3 thờ Đức Đại Thế Chí tượng trưng cho Đại Lực. Tầng 4 thờ Đức Văn Thù tượng trưng cho Đại Trí, tàng 5 thờ Đức Phổ Hiền tượng trưng Đại Hạnh, tầng 6 thờ Đức Địa Tạng tượng trưng cho Đại Nguyện, tầng 7 thờ Đức Di Lặc tượng trưng cho Đại Từ và tầng trệt dưới cùng thờ Đức Quán Âm đứng và tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn để nói lên hoạt dụng cứu khổ của Ngài Quán Thế Âm. Vì đây là Bảo Các Quán Âm nên Ngài Quán Âm là chủ chánh vì thế có hai tượng của Ngài trên hết và dưới cùng.

       Các tượng trên được tạc từ khối đá cẩm thạch trắng quí của tỉnh Thanh Hóa. Tượng nhẹ nhất là tượng Đức Văn Thù nặng 1 tấn 6. Tượng nặng nhất là tượng Đức Di Lặc 2 tấn 6. Đây là công trình đáng ca ngợi của một nghệ nhân trẻ tuổi: anh Mai Đình Hữu, Giám đốc Cơ sở Đá Mỹ nghệ. Anh đã đi tàu hỏa ra Thanh Hóa để từ đó đi xe xuyên rừng hướng về biên giới Lào,Việt, nơi có mỏ đá ngọc thạch trắng. Phải chọn lựa từng khối đá v.v. sau đó thợ đá cưa cắt từng khối mới chở bằng xe be trở lại nhà ga Thanh Hóa để tàu hỏa chở về ga Bình Triệu trong Nam. Từ đây xe cảo chở đá về Cơ sở để các nghệ nhân trẻ tuổi đục đẻo miệt mài... Từ một khối đá vô tri, xa xôi, sau nhiều tháng làm việc âm thầm để trở thành những Pháp Bảo quí: Phật, Bồ Tát hoan hỷ đang thương mến hướng lòng từ để giáo hóa chúng sanh !   Về phần hoa văn trang trí, phù điêu v.v. do quí Thầy Hoằng Tri, Hoằng Hiển đãm trách, cách điệu từ mẫu chánh, thay thế hình tượng long phụng, hoa sen.

       Các tượng trên được di chuyển từ Cơ sở Đá Mỹ Nghệ ở Thành phố về đến núi Cấm vùng Thất sơn, tỉnh Châu Đốc, cách xa gần 300 cây số tuy nặng nề nhưng không khó bằng từ dưới chưn núi đưa lên Tháp. Việc đưa các pho Tượng quí báu nầy đã được Anh Vũ pháp danh Hoằng Lược, giám đốc công ty Hoa Sen tài trợ, dàn dựng máy móc và công sức. Chúng tôi được phước duyên lên viếng Tổ đình hai lần: một lần đang trong thời kỳ xây dựng (tháng 4 năm 2002) và lần thứ hai đúng vào ngày Vía Quán Thế Âm, 19 tháng 2 năm 2003. Đó là ngày Lễ An vị các Bảo tượng lên các tầng của Bảo Các.

                   Nhắc lại công trình xây dựng Tổ đình để Phật tử xa gần khâm phục các vị trong các ban ngành cũng như kính phục nhiều Phật tử đã phát tâm làm công quả suốt ba năm qua... dưới sự lãnh đạo nhiệt tình của Thượng Tọa Hoằng Tri (Thầy Tấn). Thầy làm việc năng nổ không kể giờ giấc. Từ nền đất hoang phế đầy cỏ cây, Thầy cùng huynh đệ, môn đồ, bước từng bước, bê từng viên gạch xin được, vác từng bao xi măng (chia làm 2 gói) được mua bằng tiền cúng dường hoặc các nhà hảo tâm cho, nước thì được chứa lúc mùa mưa để cúng Phật, nấu nướng, ăn uống, dùng để trộn hồ, cát thì lấy cát núi sàng lọc lại để trộn hồ. Thợ xây dựng đã có nhiều người phát tâm đến công quả hoặc đến giúp chùa, chỉ ăn hai bữa cơm và chút tiền thù lao tượng trưng. Vật liệu xây dựng, gạch ngói, màu sắc đến gạo, rau cỏ, được Thầy Tấn chuyên chở mỗi tháng 2 lần từ Thủ Đức của Thành phố đến núi Cấm cách xa gần 300 cây số bằng xe thuê. Xe phải khởi hành từ 2 giờ khuya để chở rau cải, gạo, nước tương do Phật tử và các bạn hàng giúp chùa từ Thủ Đức đến xa cảng Miền Tây, rồi từ đây lại chất lên mui xe đò để về đến chưn núi Cấm ở Xà Tón (Tri Tôn). Đến nơi, vật liệu, thức ăn được chất lên “loại xe cải tiến” là chiếc máy cày cũ chế biến thành xe leo núi thật cứng và máy mạnh khoẻ. Xe cải tiến dành chở các vật nặng, còn mọi người hành hương đều leo núi bằng chưn. Leo khoảng 7 giờ từ chưn lên đến chùa, khởi hành 5 giờ sáng đến 11 giờ trưa thì đến nơi (đi trở xuống chỉ độ 5 giờ). Đường leo núi khúc khuỷu lổm chổm đá xanh, vậy mà ngày nào cũng có khách hành hương từ miền Bắc xa xôi đến từng đoàn 20 hay 50 người, từ Phan Thiết đến Cà Mau... đến viếng chùa. Có nhiều cụ già vừa thở vừa leo, miệng niệm Phật lầm thầm trong lúc các bạn trẻ, thanh niên nam nữ vai mang túi đàn hoặc thức ăn, cười đùa vui vẻ. Gió núi mơn man qua kẽ lá, không có nhiều ánh nắng gắt vì có tàng cây dọc theo đường che bớt. Có đoàn hành hương đang trên đường xuống núi, khi nhìn thấy nhóm người đăng sơn đang ngồi nghỉ bên mô đá để thở, thì cười cười khuyến khích: “ Rán lên bà con, gần tới rồi. Còn có một đoạn thôi !”  hoặc: “Rán lên dì hai, phía trên gần đây có quán bán nước giải khát mà có võng cho mình nằm nghỉ mệt . Khỏe ru hà !”

                  Đúng như lời khuyến khích, dọc theo dường lên núi, có nhiều hàng quán bán thức ăn, nước giải khát cho khách hành hương giá tiền vừa phải. Ai vào hàng quán muốn ăn món ăn chay hay thức ăn mặn như bánh xèo, bún chả v.v. thì cứ ngồi ghế dựa cạnh bàn hoặc nằm trên vỏng treo đong đưa. Lúc đó không còn thấy mệt nhọc để rồi khi nghe bạn bè nhắc đến cuộc đi lên tiếp tục, mấy bà lại hăng hái tiến bước. Cạnh hàng bán thức ăn có nhiều quán lá bán dược thảo, cây rừng, như củ Kỳ Nam, củ tràm, dây Hà Thủ Ạ  v.v. cạnh những chai lọ đựng dầu Phong, thuốc bổ, tha hồ cho quí vị lớn tuổi chọn mua đem về  phòng thân. Các cụ đang từng bước leo lên, nhìn những người dừng lại mua là những vị đã lên núi viếng chùa xong, giờ đây xuống núi khỏe khoắn, mấy cụ nhắc con cháu: “ lúc về nhớ nhắc tao mua dầu Phong nghen ” .

                  Kể chuyện đăng sơn lại càng kính yêu Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Mỗi lần giỗ Tổ, Ngài đều về, đặc biệt là dù tuổi đã cao, chưn yếu, Ngài vẫn cùng đệ tử đăng sơn bằng xe cải tiến dằn xóc. Ngài không chịu nằm võng, hay cáng. Nếu đường xe lên núi nhằm vào ngày có bắn đá không đi được thì Ngài đi bộ. Đi 10 phút, Ngài nghỉ một chút rồi đi tiếp. Cứ đều đều như thế, mất 6 tiếng đồng hồ, Ngài mới đến chùa. Mỗi lần về lại núi xưa, lòng Đại lão Hòa Thượng dâng trào bao niềm cảm xúc: “„n giáo dưỡng một đời nên huệ mạng, Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đền” và Đại lão Hòa Thượng tóm lược đời của Tổ Khai sơn Vạn Linh bằng 4 câu thơ:

                                               Thiện tự nội tàng thời hãn ngộ

                                               Quang truyền ngoại hóa thế đa quy

                                               Vạn Linh sơn trụ khai mông muội

                                               Linh Bửu Tây Quy hiển thoại tường

 

                         Tạm dịch:                      

                                                Thiện ẩn bên trong đời ít biết

                                               Quang độ người ngoài lắm kẻ quy

                                               Vạn Linh ở núi khai mông muội

                                               Linh Bửu về Tây hiện điềm lành.

 

            Lần viếng núi năm 2002, khi biết có vài vị Thượng Tọa Đại Đức từ Pháp, quen với Thầy Tấn, sẽ viếng Tổ đình Vạn Linh trên núi Cấm, chúng tôi xin tháp tùng và được Thượng Tọa Hoằng Tri cho ngồi theo xe cải tiến, sau khi thấy chúng tôi chỉ đi khoảng một phần ba đường mà đã phải dừng nghỉ 10 lần. Dọc trên đường, chứng kiến người dân địa phương gánh từng thùng nước nhỏ, từng bao gạo, thức ăn, họ bước chậm rãi chắc chắn, mồ hôi ướt đẩm ... mới thấy công trình xây dựng Tổ đình trên núi Cấm thật vĩ đại. Còn khoảng 100 thước, chúng tôi thấy sừng sửng  ngôi Bảo Các Quán Âm cao chín tầng. Bên phải Bảo Các là ngôi Tháp thờ Tổ Thiện Quang.

        Phật tử hành hương hoặc du khách viếng chùa đều được tắm rửa ở dãy nhà tắm, được ngủ trong căn phòng rộng riêng biệt hai khu Nam, Nữ. Chùa có nhà bếp nấu ăn phục vụ cho khách viếng thăm, lúc nào cũng có 10 vị công quả nấu ăn. Khách du lịch, Phật tử hành hương dầu 100 người vẫn có nhiều mâm cơm dành cho 4 người được dọn sẵn.  Hãy hình dung trên núi cao khó vận chuyển nước, gạo, rau cải, mà Tổ đình lúc nào cũng cung cấp đầy đủ để mà thương mến Tổ đình.  Tổ đình dự trù mọi người không có thời gian xuống núi, ai cũng ở lại ăn cơm, tắm rửa, ngủ nghê, rồi sau đó lại được nghe kinh đãnh lễ, tham dự các khóa công phu tối, khuya để lòng được thêm an lạc.

         Chúng tôi được phước duyên đăng sơn kỳ hai, ngày Vía Đức Quán Thế Âm 19 tháng Hai, để tham dự Lễ An Vị Phật, Bồ Tát lên Bảo Các.

         Như đã kể, việc đưa tượng từ Sài Gòn về đến chưn núi Cấm không khó, chỉ khó lúc đưa các Bảo Tượng lên núi và đưa lên Bảo Các. 

         Từ chưn núi Cấm, hướng lên Vồ Bồ Hong nơi xây Tổ Đình cao gần 600m, cheo leo, hiểm trở, nhỏ hẹp, Phật tử đăng sơn không mang nhiều vật dụng theo người đã thấy mệt bở hơi tai, còn đây là các Tượng Đá nặng trên 1 tấn, lại phải qua một nơi linh thiêng cổ kính từ lâu là: Cửa Núi. Nơi đây chắn ngang đường lên núi là hai khối đá lớn thiên nhiên sừng sửng, chỉ có một khe giửa nhỏ hẹp độ 1m bề ngang để mọi người lách qua. Từ xưa, với tâm nguyện quí trọng nơi non cao huyền bí, mọi người coi như đường đăng sơn lên núi Cấm đều phải đi qua nơi nầy mới được lên đến đỉnh. Mọi người thành kính gọi khoảng giửa hai khối đá nầy là “Cửa Núi”. Theo thời gian, khối đá phủ nhiều rêu phong lại được thiện nam tín nữ đăng sơn thấp hương van vái, quanh đó có những phiến đá bằng phẳng được các cụ già sắp trái cây dâng cúng như để xin trình diện được lên núi. Tiếng van vái pha khói hương càng tăng thêm sự huyền bí, linh thiêng đã có từ lâu, nên khi quí Thầy tìm đường để chở Bảo tượng đá trắng lên núi, phải đưa lọt qua Cửa Núi nầy, không biết làm sao? Quí Thầy dự định mướn trực thăng bốc các tượng lên chùa cũng không dám thực hiện, vì tiền trực thăng phải trả 2.000 mỹ kim/ một giờ. Mà bốc các tượng nầy phải bao nhiêu giờ? Sau cùng quí Thầy nhớ lại con đường quanh co của công ty bắn đá, quí Thầy kêu gọi Phật tử làm công quả trong việc dọn dẹp đá xanh ngổn ngang tiếp với công ty bắn phá đá làm thành con đường rộng 3, 4 thước bề ngang để xe cải tiến đưa được Bảo tượng lên núi. Sau một thời gian, con đường sạn đạo hữu ích nầy đã đưa được các Bảo tượng lên sân chùa trong sự hân hoan thành kính của nhóm Phật tử công quả dưới nắng gió của vùng Núi Cấm ! Con đường cheo leo một bên là vách núi đá, một bên là triền sâu đã giúp Tổ đình và cũng giúp khách hành hương từ đây đăng sơn dễ dàng, vì mọi người có thể nhờ xe ôm chở lên chùa, với giá tiền khiêm nhường giúp đỡ.

         Nhìn công trình xây dựng Tổ đình trên núi cao với Bảo Các, Tháp Tổ... để mà quí trọng quí Thầy, quí trọng các ngày công quả của rất nhiều Phật tử gần xa không nệ công leo núi, mang vật ăn thức uống cho mọi người viếng Tổ đình, quí trọng sức lực mồ hôi của các bác, các anh trai đã hâm hở cố sức với lòng thành kính trong những ngày làm công quả để đúng ngày Vía Quán Thế Âm, 19 tháng 2 năm Quí Mùi, đón chư Tăng và Phật tử  về Tổ Đình Vạn Linh. Từ ngày 17, 18, Phật tử các tỉnh xa đến đăng sơn và riêng ngày 18, trước Lễ một ngày, ngay chân núi, xe đò mang tên các tỉnh thành xa xôi, đủ màu sắc đã đến đậu chen chúc. Khách hành hương nôn nao lên núi viếng Tổ đình, ngủ lại một đêm để dự buổi lễ trọng đại. Tại chân núi, khách hành hương trẻ tuổi theo đường mòn từ trước hâm hở đăng sơn, còn các cụ già được ngồi sau xe gắn máy chạy theo đường đá vừa khai quang để lên núi. Lúc đầu ai cũng e ngại vì “xe gắn máy đèo theo một người khách lên núi... sao chạy nổi ? Vậy mà đó là sự thật !

         Nằm nghỉ ngơi nơi dành riêng cho Phật tử, nam nữ riêng biệt, nhưng lòng mọi người nôn nao khó ngủ. Không phải vì gió núi từ Vồ Đầu cao trên 6oom thổi vi vu, không phải vì hình bóng 3 ngôi Tháp sừng sửng in trên nền trời có ánh trăng ngày 18 âm lịch quá hùng vĩ và uy nghi... mà mọi người đang chờ đúng 3 giờ 30 sáng để được nghe tiếng kẻng báo chúng thức dậy, chuẩn bị vệ sinh buổi sáng, mặc chiếc áo tràng màu lam quen thuộc, để vào Đại Hùng Bửu Điện dự lễ Công Phu và đến 7 giờ rưởi, Chư Tăng hướng dẫn Phật tử ra sân chùa, đến quì sau bàn hương án khói hương nghi ngút đối diện trước ngôi Bảo Các và Tháp Tổ, Tháp chuông. Mặc dầu sân chùa rộng lớn nhưng với hơn ngàn người: Tăng đoàn áo vàng sáng rực, và Phật tử áo lam quì thẳng hàng trên các chiếc đệm bàng ... là quang cảnh uy nghi hùng tráng mà từ trước đến nay khu Núi Cấm chưa từng thấy. Mọi người đang    đem hết lòng thành hướng về ngôi Tam Bảo cầu nguyện Phật sự viên thành, và việc đưa Bảo Tượng lên Tháp đã được an toàn tốt đẹp. 

        Từ đây, Thất sơn huyền bí của Miền Tây nước Việt càng linh thiêng trong tâm tưởng của người dân cũng như núi Cấm có Tổ đình Vạn Linh sẽ là Danh lam, Cổ tự để Phật tử các nơi hướng về. Mọi sẽ kể chuyện hành hương... Trong chuyện kể có việc “ lên núi cao bằng xe gắn máy, hai tay ôm chặc anh lái xe, mắt nhìn đường gồ ghề  miệng niệm thành kính câu Nam Mô A Di Đà Phật !”..

 

           Phạm Thăng (Thiện Lộc-Tâm Chiếu)

                   (tháng 4 - năm Quí Mùi 2003)

 

     Trang Chính      Hình Ảnh      Hộp Thư      Truyện Thật Ngắn      Bút Ký    Truyện Ngắn    Thơ    Góp Nhặt    Sức Khỏe và Gia Đình    Gia Chánh    Tin Tức    SK Nghệ Thuật