Ba
Người Bạn
Út Lượm
Trên đường về Châu Đốc, Chị hai tôi có rủ thêm chị ba Thơm, người bạn già dân
Châu Đốc đã rời quê hương theo con cháu lên Sài Gòn sinh sống. Cả hai điều muốn
gặp chị mười Nữa đang ở Đầu Bờ núi Sam, bộ ba này đã một thời "nghiên
thành đổ nước" ở xóm "Cầu lò heo trong" họ gặp nhau như lân gặp
pháo. Dưới bóng mát cây Bồ Đề ba chị tha hồ tâm sự.
*************
Chị mười mủi lòng nhìn 2
bạn rưng rưng nước mắt nói:
-Thiệt không ngờ mới đây đã gần 40 năm mình không gặp. Hai chị còn nhớ
câu ca dao "Cũng tại hoá công kẻ đông người bắc. Tuy là xa lắc còn
nhớ nhau hoài ...."
Chị ba ngắt lời:
- Mười à bộ bà tính hát cải lương hả?
Chị hai chen vô:
- Đã hơn sáu mươi, chị Mười vẩn còn tính văn nghệ. Hồi đó mổi lần trường
tổ chức tất niên không thể nào thiếu chị Mười. Viết văn làm thơ ca hát cái nào
cũng hay hết. Để tôi nhớ coi bản ruột của chỉ là ...."Tình anh
lính chiến"; chị hát hay đến mấy anh học chung lớp chết mê chết mệt.
Nói tới văn chương tôi không quên được cuộc đối thơ giữa thằng Quân và chị Mười.
Hôm đó mình "cúp cua" giờ anh văn, ba đứa ngồi tán dóc cũng tại
chỗ nầy. Đám thằng Quân, thằng Thắng, thắng Thủy củng trốn học như mình, thằng
Quân có chân trong ban văn nghệ nhà trường nghĩ mình là nhà thơ lớn, tự nhiên
chơi xỏ tụi mình bằng bốn câu thơ tôi nhớ tới già:
Đàn ông vô rượu ra lời
Đàn bà " tâm sự " quên trời quên trăng
Quên trăng quên gió chẳng sao
Đừng quê hũ gạo hại chồng hại con.
Nói xong khoái trí cả bọn
cười ầm lên, chị Mười đâu có chịu thua trả đủa nghe sướng tai.
Em còn son chồng con chưa có
Dưới bồ đề nghe "chó" sủa trăng
Sủa trăng sủa gió chẵng sao
Đừng sủa ào ào người tưởng chó điên..
Chị mười cười tủm tỉm
nói:
- Hai chị không nhắc tôi cũng quên mất. Mấy chục năm nay làm ruộng
đã là dân "bần cố nông", chữ nghĩa văn chương cũng theo cuộc sống trở
thành mây khói. Hai chị có nhớ chuyện mình chọc anh thổi kèn không?
Chị ba lên giọng:
- Làm sao quên được, ngày xưa mổi lần lễ lộc đều dựng khán đài ở đằng sau, ngó
mặt về phía nhà việc. Ban nhạc thường phải tập dượt trước, hai bà bắt
tôi dùng mỹ nhân kế "lạn" qua mặt anh thổi kèn để anh ta chú ý,
khi anh nhìn về phía 3 đứa tụi mình, thế là đứa phùng mang trợn mắt, đứa làm
"mắc cỡ liu liu", quên mình đang thổi kèn, anh ta nhe răng ra cười,
tiếng kèn đang thanh tao trở thành "tè... tè... tè...". Ông trưởng
đoàn đuổi tụi mình như đuổi tà, còn anh thổi kèn thì bị chưởi một trận cho bỏ
thói "dê".
Vuốt sợ tóc bạc gió bay
vào mắt chị mười nói:
-Thiệt như giấc chiêm bao, hơn mấy chục năm cứ ngỡ hôm qua, tấc cả đã đổi thay
theo thời gian, cầu lò heo trong của mình cũng bị lấp. Không biết xóm của
mình có đổi tên không?. Nếu vẩn giữ tên mà cầu không còn thì thiệt là đau
lòng nhưng nếu mất luôn cái tên thì càng đau hơn. Sau 75 gia đình tôi dọn
vô đầu bờ làm ruộng, suốt ngày cứ "quần quật" hết ngoài đồng, tới
trong vườn vậy mà vẫn thiếu trước hụt sau. Rồi ba sắp nhỏ qua đời
tôi càng khổ hơn. Ruộng vườn của ba tôi để lại đem bán từ từ, mượn tiền
nhà nước "ăn trước trả sau". Hễ trúng mùa thì trả vốn lẫn lời,
còn thất mùa thì quơ đầu nầy lấp đầu kia chỉ đủ trả lời mà không trả vốn,
nợ đẻ ra nợ. Cũng mai con ba nó có chồng Việt Kiều nên đỡ một chút,
nếu không bây giờ chắc phải "móc bọc" để sống.
Ngưng một chút cho qua
cơn xúc động, chị mười đổi giọng bắt sang chuyện khác:
- Xin lổi hai chị nhe, lâu rồi tôi mới được "sổ" cái ấm ức của mình,
mấy năm nay tôi không ra khỏi đầu bờ. Con đường ra chợ bây giờ
rất êm rất đẹp, chớ không còn ổ gà ổ chuột như thời xưa. Vì "nôn
nóng" gặp hai chị tôi tới đây sớm lắm, không thấy ai, thằng chồng con hai
chở tôi một vòng chợ cho biết, chỉ không ra đây có vài năm chợ búa thay đổi
nhiều quá, nếu tôi đi một mình không chừng bị lạc. Thiệt không ngờ họ kiến
thiết Châu Đốc mình quá mạng. Đúng là thái bình an lạc, nhà thương vẩn
như củ không có thay đổi, có lẽ không có chiến tranh đâu cần bịnh viện, công
viên thì ở đâu cũng có. Cạnh "Bồ Đề Đạo Tràng" cũng có
công viên, cái công viên củ trước cửa nhà thương đổ ngược lên "nhà lớn",
dọc theo bờ sông, chổ hồi xưa ba con khỉ tụi mình hay "phá đám" thiên
hạ bồ bịch "rù rì", thay đổi hoàn toàn, trước cữa nhà
thương "chìn ìn" một khách sạn "thuộc dạng sang", cập
bên khách sạn chạy dài tới bến đò Châu Giang trở thành công viên "thuộc dạng
đẹp". Cái cầu quan củ kĩ không còn nửa, họ cất cái cầu
khác cách đó không xa, lại còn để thêm hai con cá, coi cũng ngồ ngộ đúng
là truyền thống của quê hương "có cầu phải có cá". Bến đò
Châu giang ngày xưa "anh đón anh đưa" cùng chung số phận với cầu
quan, chỉ còn bến bắc. Trường Thủ khoa Nghĩa cũng được cất lại nới rộng
qua luôn bên trường nam tiểu học đẹp lắm. Trường Nguyễn Hữu Cảnh thì đổi
lại thành trường tiểu học với kiến trúc mới. Tôi lại nói chuyện "không đầu
không đuôi" nữa rồi, già trở thành lẩm cẩm định nói chuyện này lại quẹo
qua chuyện khác hồi nào không hay, giống như chiếc xe cũ đã hư tay lái không
còn điều khiển được.
Chị ba chen vô:
- Đâu phải mình chị, tôi cũng vậy, còn thê thảm hơn nữa, quên trước quên sau, bị
bệnh nói ngược, đi đưa đám ma thì nói chia vui với tang quyến, còn đi đám cưới
thì nói đi đám giổ, biết mình nói trật thì lời đã tuôn ra khỏi miệng nuốt lại
không kịp. Tôi thấy chị hai coi bộ đở hơn tụi mình.
Chị hai trả lời:
- Đỡ con khỉ gì, Từ lúc qua đó tới bây giờ tui "xuống"
ngó thấy. Hai chị thấy đó tóc đã bạc, răng thì rụng gần hết, đi làm không
ai mướn chỉ ở nhà giữ cháu, cũng nhờ con "Ba Xu" làm nghề móng tay
nên đời sống dư dã, không phải lo ăn lo mặc; tuy vậy tôi vẫn cảm thấy thiếu
thốn, thấy buồn, nói thiệt càng già càng nhớ quê hương, không đâu bằng quê
hương xứ sở của mình...
- Nè nè con Ba Xu nào vậy? Chi ba Thơm ngắt lời.
- Chèn ơi! con ba Tiền (Tuyền) nhà tôi đó chứ còn ai. Tên Mỹ của nó là Xu
(Sue). Nó nói tên "Tiền" nhà quê. Chị thấy đó "Tiền"
với "Xu" có khác gì đâu, cái nào cũng bị người ta lôi đầu bỏ túi.
Chị ba Thơm nói:
- Đừng câu nệ quá chị hai à, ở Mỹ đỗi tên cho hợp với xứ người "nhập gia
tùy tục" mà. Còn hơn thằng con Út của tui nó vô nhóm tám-ếch (1), tám-cóc
vì đó, tối ngày chỉ biết lên mạng, ăn mặc không giống ai. Nếu không ôm
máy vi tính thì la cà theo đám cần xa ma túy, ngồi quán cà phê nói chuyện trên
trời, có ngày cũng chết đâm chết lụi. Tốn biết bao nhiêu tiền để lo cho
nó học hành, học xong rồi cứ nhỏng nhỏng không đi làm. Mỗi lần nhìn nó tôi thấy
tủi hổ với ông bà cha mẹ. Đúng là nợ kiếp trước.
Chị mười Nữa nhẹ giọng:
-Chị ba ơi! Con là nợ mà chị, thứ nợ trả hoài không dứt. Chị buồn
làm gì, "Sanh con đâu có sanh lòng". Con Hai, Thằng
Tư nhà chị đều ngoan làm ăn khá giả thì cũng an ủi rồi, bàn tay có ngón dài
ngón ngắn. Con phải có đứa hư đứa nên, đứa nghèo đứa giàu; như tôi, con
ba làm "bông Sô" để qua Úc, nhưng tôi không chịu chỉ cho thằng
Út di dân theo chị nó, bỏ con Hai ở đây "mình ên" tôi không
đành. Con Ba gởi tiền về, bao nhiêu tôi cũng dồn hết cho con Hai, tội
nghiệp con Hai nhà tôi, làm đầu tắc mặt tối mà không đủ ăn. Ruộng
vườn khi trúng khi thất, nợ nần tứ giăng, lại phải lo cho mấy đứa con đi học.
Con nít học hành bây giờ tốn kém lắm, chứ không phải như mình hồi nhỏ, nếu
không có tiền cho con học thêm, vô lớp nó ngồi như "thần thừ ", năm
nào cũng lên nhưng không biết gì hết, nghe nói có đứa lên tới lớp
năm vẫn chưa đọc được tờ báo. Mà thôi đừng nói chuyện nầy nữa. Nói
chuyện nước ngoài đi, đời sống ở bên đó có khác bên này không chị hai?
- Có khác gì chị mười ơi! ở đâu cũng phải vác cây cày lên vai mới
có ăn.
- Nghe nói đồ ăn mắc lắm phải không?
- Chớ còn gì nữa. Thịt cá toàn là đồ đông đá ăn như củi mục. Có điều
lạ, mặc dù đồ ăn bên đó mắt mỏ vậy mà một tuần có khi xài chưa tới 10 đô.
Về đây cái gì cũng rẻ mạt nhưng đổi 100 đô ôm tiền một đống, xoay qua xoay lại
chưa tới 2 ngày đã hết sạch không biết nó chạy đi đâu. Xài tiền ngán quá.
- Chị hai chùm sò ơi! Việt Kiều người ta xài sang lắm. Có ai than van đâu.
- Sang thiệt thì đếm không đầy mười đầu ngón tay, chớ "sang dịch" thì
nhiều. Ở xứ người cày "hộc máu" có chút đỉnh trong túi về nước
nổ lớn hơn súng đại liên. Mấy bà thì ăn dọn như tây như đầm, mấy ông thì vợ bé
vợ mọn. Không biết dân mình làm tội gì mà hết nạn này tới nạn khác.
Ngày xưa có kẻ bỏ xứ ra đi không dẫn được vợ con, gia đình ly tán . Ngày
nay có người bỏ vợ bỏ con, về quê lăng nhăng bậy bạ làm tan nát cửa nhà, đời
đúng là cuộc bể dâu.
Chị Mười Nữa ngắt lời:
- Thôi đi chị! đó là chuyện gia đình người ta đèn nhà ai nấy sáng hơi sức nào
nói. Tôi hỏi chị nè, ở bển có nước mắn, có rau sống (rau thơm) không?
- Cái gì mà không có.
- Vậy đâu có khác xứ mình.
- Ăn uống không khác mấy, nhưng có một cái khác 100 phần 100.
- Cái gì ?
-Tuổi người thông dịch, ở Mỹ ra đường phải dẫn thằng cháu 10 tuổi đi làm thông
dịch. Ở Việt Nam phải dẩn thằng em ngoài năm mươi tuổi đi theo mới làm
thông dịch được.
- Thôi đi chị hai! già rồi có điệu cũng vừa vừa. Xứ người chị cần thông dịch, ở
xứ mình bộ chị quên tiếng Việt sao phải dẫn theo cái "tòn ten" đó?
- Điệu hạnh cái con khỉ gì, tôi có quên tiếng Việt đâu? khổ một nỗi khi ra đường
người ta xài nhiều từ mới tôi không hiểu. Mấy chục năm mới về xứ,
nghe thiên hạ nói chuyện như trên trời rớt xuống, còn đọc tờ báo moi cả
"tim gan phèo phổi" cũng không "đạt được" ý của tác giả.
Cách đây vài ngày tôi đi bác sĩ. Ông nói "có phải bác thường có cảm
giác kiến bò, hay bị Chuột rút phải không?. Bác nên ăn uống
cẩn thận cao mỡ trong máu dễ bị đột quỵ". Tôi trợn mắt nhìn
ông ta trả lời: "Bác sĩ ơi! tôi có đi làm vườn làm ruộng hồi nào đâu
mà biết cảm giác kiến bò chuột rút". Nghe tôi trả lời mọi người cười ầm
lên.
Chị mười Nữa lên tiếng:
-Tiếng chuột rút đã có từ lâu rồi, nhưng ngày xưa không thông dụng nhất là vùng
mình ít ai biết, chỉ biết "vọp bẻ", bây giờ không ai gọi
"vọp bẻ" nữa mà là "chuột rút" . Còn bị tê rần rần là cảm
giác "kiến bò" bộ chị không biết sao?. À mà tôi chưa nghe
"đột quỵ" đó nhe.
Chị ba Thơm nói:
-Chị ở đâu mà không biết? "Đột quỵ" là bị tai biến mạch máu não
đó chị mười ơi.
Chị hai lắc đầu nói:
- Tôi mới quen với tiếng "tai biến" bây giờ đổi thành "đột
quỵ", tôi nói thiệt với hai chị mổi lần nhắc tới
"kiến bò", "chuột rút" tôi thấy nhột nhạt làm
sao. Cái người nào nghĩ ra mấy cái nầy chắc họ thường nằm bụi
lùm, hoặc lặn hụp trong đám lúa xạ mùa nước lên mới có kinh nghiệm.
Chị ba Thơm:
- Chị Hai à! "kiến bò chuột rút" mới diển tả đúng tâm trạng cũa
người "bình dân giáo dục", tôi ủng hộ hết mình. Còn hơn là xài
tiếng "Hán", mỗi lần tôi kêu thằng Út đưa điện thoại cầm tay,
nó nói "Má ơi! điện thoại di động má gọi như vậy người ta nói
má là hai lúa". Khi đường dây điện thoại bận nó nói "nghẽnh
mạch di động" , đồ phụ tùng thì lại gọi là "linh kiện",
chị nghe có tức trào máu họng không?
Chị Mười:
-Tôi đồng tình với chị chuyện nầy .
Chị hai nói:
- Thôi đi bà Mười! bộ tưởng mình còn xuân sắc hay sao, già hết rồi còn
"làm ăn" gì được mà "đồng tình" , "đồng ái".
Chị ba Thơm cười lớn
nói:
- Chị Hai à! chị đang nghĩ gì đó, bộ nhớ tới anh bồ cũ hả?. Chị Mười
nói "đồng tình" là "đồng ý" đó.
Nhưng không sao lúc đầu nghe "lùng bùng" lỗ tai, nghe riết rồi quen.
Bị chọc quê chi Hai nổi
sùng:
- Làm sao quen nỗi, vài năm mới về quê một lần, nhưng cách dùng chữ cứ thay đổi
lung tung bữa nay gọi "kiến bò, chuột rút", biết đâu mai mốt chán lại
đổi chữ khác, giống như "đột quỵ" chị Mười ở đây còn theo không kip
huống chi tôi.
Chi Mười chen vô
- Thôi đi bà Hai ơi, lâu lâu về nước ráng chịu khó một chút, tiếng
Việt không mà đâu phải tiếng Tây, tiếng Tàu. Nói thiệt nhe, càng nghĩ tới
mấy tên "Kiến bò", "chuột rút", "đột quỵ"
tôi càng thấy nó thấm như nồi "cá linh kho riệu", nó gần gũi với dân
quê mùa dốt nát tụi tui quá chừng, đúng với câu "nghĩ sao nói vậy"
. Ngày trước còn phân biệt cách nói của người nhà quê, của người ở chợ, của
kẻ có học và không học, bây giờ tấc cả đều như nhau. Người dân quê tụi
tui không còn mặc cảm nữa, được nâng cấp rồi đó, không phải là chuyện đáng mừng
sao?
Chị hai không chịu bỏ cuộc
cãi tiếp:
- Chị nói vậy tại sao người ta còn dùng tiếng "Hán"
Chị mười nói
- Tôi làm sao biết được, tôi nghĩ tiếng Hán phát xuất từ miền bắc vì gần
"Tàu" . Còn tiếng bình dân là tiếng Nam bộ của mình, chúng ta
đang Nam Bắc một nhà mà chị. Không biết tại sao mấy ông bà Việt Kiều hay
để ý chuyện nhỏ nhặc nầy quá. Chớ còn tụi tui ở đây, hai bữa ăn lo còn
chưa xong hơi sức nào để ý mấy chuyện đó . Miển hiểu là được rồi, nếu giỏi
quí vị ráng giữ cách xài chữ của mình đừng để bị đồng hóa.
Chị ba nói thêm:
- Chị hai à! chị đúng là "già chết nết không bỏ", tôi nhớ hồi đó
trong giờ "Công Dân" chị cãi với thầy Quý về điều lệ nầy không đúng,
điều lệ kia không hợp, thầy Quý khuyên chị đi học "luật" nhưng
kiểu "nói ngang ba làng nói không lại" của chị chỉ hại thiên hạ
thôi. Tôi đề nghị tháng mười năm sao mùa bầu cử, chị về đây ứng cử
biết đâu thắng, chừng đó mặc sức mà sửa đổi bây giờ xin chị hai cẩn thận đừng để
"cái miệng kiện cái thân".
Tôi thấy ba bà bắt đầu
"lạc đề" nên xen vào:
-"Hội nghị" bàn tròn của ba chị làm ơn ngừng lại. Ngày
mai nói tiếp có được không? Em cần ra chợ chuối mua nải chuối xiêm để còn vô
núi cúng ba.
- Út à! (Chị Mười nói) chợ chuối phía sau đình đã dẹp lâu lắm rồi em. Muốn
mua chuối chị dẫn em, chị Hai và chị ba ra "đầu lòng nhà chợ ngoài"
bây giờ bán trái cây ở đó.
Đi ngang qua quày trái
cây người bán rao hàng:
- Chị ơi mua giùm em đi?
Chi Mười chỉ chôm chôm hỏi:
- Bao nhiêu một ký,
- 30 ngàn.
- 20 ngàn được rồi.
- Chi hai à! trái cây của em thuộc loại "cao cấp", giá cả
"nhẹ nhàng tươi mát" lắm rồi mua đâu cũng vậy mua dùm em đi.
Tôi cười nói với chị Mười:
- Chị Mười à! hàng cao cấp đấy, giá cả quá nhẹ nhàn rồi, có trả giá cũng trã nhẹ
nhẹ một chút đừng nặng nề lắm.
Út
Lượm
Kỷ
Niệm Ngày về Châu Đốc tháng 11, 2005
Ghi
Chú:
(1)
Sanh từ năm 1980 - 1989 một nhóm trẻ tự gọi là 8X