Thưa Thầy, Con là Carnot đây
Vĩnh Lộc
Ở đời trong cái rủi thường
có cái may, trong nỗi buồn thường lại đi kèm một niềm vui nào đó, có như vậy
con người ta mới sống lây lất nổi trong thế giới ta bà này, Đức PHẬT đã dạy, có
hạnh phúc thì có khổ đau, sinh ly thì phải đi kèm với tử biệt, khi vui thì cũng
không nên vui thái quá, mà lúc buồn, cũng chẳng nên sầu thảm chi nhiều. Chuyến
đi Úc vào cuối tháng tám vừa qua, Tôi biết đại gia đình Tôi, cuối cùng rồi
cũng mất Trang (Em gái thứ sáu, đang sinh sống ở ÚC). Em đã bị ung thư ngực 10
năm nay, bây giờ đang ở thời kỳ cuối, em đã cố gắng bình thản chấp nhận, sống tới
tuổi này. Tôi hiểu rằng, trong đời người, luôn luôn mình phải biết đón nhận những
tai ương luôn rình rập đâu đó quanh ta, mà tuổi già là một vấn nạn, gây muôn
vàn khó khăn cho mọi người, già rồi thì quên trước quên sau, buổi tối thì mắt
mũi kèm nhèm, lái xe quờ quạng, trăm thứ bệnh tật bủa vây lấy ta, ăn cũng không
dám ăn nhiều, sợ đường trong máu cao, bác sĩ dặn phải hạn chế, gặp
mó năn ngon, cũng nhấm nháp chút ít, vì sợ cholesteron. Tuổi càng lớn
càng mất mát nhiều thứ, bạn bè rủ nhau dần dần bỏ di, ngay cả em Trang (nhỏ hơn
Tôi 9 tuổi) cũng mới mất rồi. Rồi sẽ còn nữa... còn nữa.... Rồi bao giờ tới
mình dây, cát bụi rồi sẽ trở về với cát bụi. Biết vậy nhưng mấy ai mà chẳng đau
lòng khi đối mặt với cảnh sinh ly tử biệt.
Dù gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin visa, sau cùng Anh Chi Em trong nhà,
cũng đã đến được Úc đầy đủ, chỉ trừ anh Khánh (người Anh Lớn
nhất) vì sức khoẻ yếu nên không sang được, thay mặt cho Anh & Chị
là cô con Dâu lớn đại diện sang dự dám tang. Sau năm 1975, đây là lần
đầu tiên, Đại gia đình Tôi mới quây quần đông đủ nhất, mười
một đứa, 5 ở ÚC, 5 ở VN, 1 ở Mỹ, thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận,
nhờ anh em đông người, mỗi người một chân một tay, nên lễ tang
diễn ra trong không khí trang nghiêm và cảm động, niềm vui được xum họp
bên Cha & Mẹ làm Chúng Tôi tạm quên đi nỗi buồn mất Em Trang.
Điều may mắn nữa trong lần qua xứ kangarou kỳ này là Tôi dược gặp Thầy Trần
Thiện Hiếu và Anh Chi Dương văn Chung, những người mà mới gặp nhau vài lần, trò
chuyện cũng chưa nhiều, nhưng Tôi rất kính mến về tư cách cũng như cách xử thế.
Xin hãy nói về Thầy Hiếu trước (Anh Chung và chị Phấn có dịp Tôi sẽ nói đến
sau), ngồi với anh Chung và Tôi, là một Cụ già 85 tuổi, râu tóc bạc phơ,
nhưng tinh thần và thể chất còn rất tráng kiện, phong thái khoan thai hòa nhã,
cốt cách như một tiên ông,. Tôi thực sự ngạc nhiên khi biết Thầy vẫn
còn tự lái xe đi đây, đi đó trong thành phố Sydney, mà chẳng
phiền dến Con Cháu. Thầy trò gặp nhau sau 45 năm xa cách, Tôi nhận được ra
Thầy ngay, vì đầu những năm 60, Châu Đốc chỉ có vài Giáo Sư gốc người Bắc
di cư xuống dạy học thôi, như Thầy Hiếu, Thầy Trường, Thầy Viện... Thầy
kể với Tôi và Anh Chung đủ thứ chuyện, vui lắm, Thầy kể rằng, trong cuộc đời
lang bạt của Thầy từ bắc vào Nam, rồi qua Úc, những năm ở Châu Đốc
là những năm đáng nhớ nhất, êm dềm nhất, chẳng bao giờ Thầy
quên được những năm tháng sống trong không khí thanh bình, đầy tình
người của người dân xứ mắm.
Tôi hỏi, trong hoàn cảnh
nào, Thầy đổi về trường Thủ Khoa Nghĩa, xa xôi quá vậy? Thầy bảo 54, Thầy
và gia đình di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, không nhà cửa, tiền bạc
chẳng có là bao, một dịp may, gặp một người bạn là công chức cao cấp trong
chính phủ, biết Thầy đã từng dạy học, nên muốn giúp Thầy, tìm một chỗ dậy
học cho Thầy đối với ông ta thì cũng dễ thôi, nhưng Thầy lại muốn xin một
căn nhà, cho gia đình ở.
Ông ta bảo, muốn có nhà, thì Anh phải chịu khó đi xa mới được.
- Đi xa
là đi đâu? Thầy Hiếu hỏi ?
- Châu Dốc, Ông bạn đáp.
Đi thì đi. Chẳng
còn nhiều chọn lựa cho Thầy lúc đó.
Hoàn cảnh của Thầy Hiếu
lúc đó, làm Tôi nhớ dến Thầy Ngô văn Luôn, Thầy dạy Viêt văn cho Tôi
năm đệ nhị và Triết năm đệ nhất, Tôi còn nhớ rõ giờ học đầu
tiên của Thầy Luôn, Ông Thầy đẹp trai, ăn mặc đúng mốt, nói năng lưu loát,
khi Thầy giảng bài, học trò cứ như bị thôi miên, đi dạy Thầy luôn xách cặp táp
mang dù đen, làm cả trường Thủ Khoa Nghiã xôn xao, nhìn thầy mà mơ ước cho
tương lai của mình. Thầy nói : khi Tôi cầm sụ vụ lệnh, thấy nơi về dạy là châu
Đốc, xem trên bản đồ, thấy thị xã ở gần biên giới, làm Tôi chợt nhớ tới hai câu
thơ bất hủ của Thi hào Bạch Cư Dị đời Đường :
Bến Tầm Dương canh khuya đưa
khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Chúng ta hiểu, ý Thầy Luôn
nói, hoàn cảnh của Thầy cũng giống như nhà thơ, cùng bị đi đày như nhau, nhưng
khi đến Châu Đốc, mới biết là mình lầm, phố xá nhộn nhịp, chợ búa sung túc trường
ốc khang trang, cũng nên nói thêm, trong một giờ dạy triết, không biết có chuyện
gì xẩy ra, mà Thầy có vẻ giận lắm, Thầy Luôn nói :
Tôi coi các Anh & Chị như Con Cháu, đừng có vơ vẩn, muốn gì, Tôi làm quen với
nhũng người đồng trang lúa với Tôi.
Nên nhớ niên khóa 63-64,
lớp đệ nhất, học trò, trai gái học chung với nhau, cả đám trong lớp mấy chục mạng,
ngồi im thin thít, chẳng đứa nào dám hó hé gì, bây giờ nghĩ lại, Thầy nói vậy kể
cũng hơi tàn nhẫn quá, phảỉ không quí bạn? nhưng Tôi vẫn phục Thầy là ngươì có
tư cách, dám nói thẳng. Sau này Thầy Luôn trở thành Dân Biểu, nghe nói Thầy lập
gia đình với cháu Tổng Thống Thiệu.
Trở lại câu chuyện về Thầy
Hiếu, Thầy về dạy trường Thủ Khoa Nghĩa từ năm 1955, đến năm 1962 Thầy rời trường
về làm công chức trong chinh phủ.
Bây giờ Thầy & Cô
cùng gia đình định cư tại Úc, là một nhà thơ Đường nổi tiếng tại Úc, Thầy giao
du rất rộng trong giới văn nhân tài tử Sydney, Thầy còn có biệt tài, chụp ảnh
nghệ thuật, còn Cô tuy đã mổ chân 3 lần, đi đứng khó khăn, sức khoẻ suy yếu,
nhưng vẫn cố gắng nấu những thức ăn ngon đãi khách, đặc biệt là món cháo lòng
(nấu theo kiểu người Bắc) mà Tôi và anh Chi Chung có may mắn được thưởng thức
qua. Tôi và Thầy nói chuyện rất tâm đắc, một già một trẻ bàn về chữ
hiếu trong đạo làm Con, về câu nhất tụ vi sư, bán tự vi sư. Về câu nói bất hủ của
một vi Tổng Thống Pháp về thăm trường cũ, mà học trò Chúng ta đều biết: Thưa Thầy,
Con là Carnot đây.
Thầy cũng đồng ý với
Tôi, chúng ta chưa thành người Quân Tử, nhưng hãy học cách xử thế của người
Quân Tử. Nói thì dễ nhưng mấy ai trong đời đã thực hiện được.
Tôi còn mong gặp lại nhiều
thầy nữa, mà Tôi biết hiện sinh sống đâu dó quanh đây, Thầy Huỳnh dạy Pháp văn
năm Tôi học Đệ Tam, Thầy Lượm, Thầy Tống, Thầy Khánh, Cô Gấm..... Tôi còn muốn
gặp Thầy Vũ Hữu Viện, dạy Lý Hoá cho Tôi năm Đệ tứ, nhưng Thầy đã qua đời vào
tuổi ngoài 60, xin thành kính thắp nén hương lòng tưởng nhớ tới Thầy.
Viết vào tháng 11 năm 2007.
Vĩnh Lộc.