Dòng sông xuôi chảy
HOÀI ZIANG DUY
Đọc lại. Tôi cũng không hiểu sao phải bắt đầu như thế nầy.
Nhiều lần tôi ngồi rất lâu, lòng chùng xuống,
khi nghe tin bạn bè mất đi. Ít khi tôi viết lời bày tỏ nỗi đau như anh em
đã làm. Tôi vụng về trong phản ứng đối xử? Nhưng tôi biết một điều, chỉ ngần
âý, nó là cơn đau gậm nhấm thấm dần, để rồi không viết không nói gì hết. Tôi
sống ngoài mặt bình tâm hay thật mềm lòng.? Đối với tôi nỗi buồn sâu kín
đến thật muộn màng và ở lại. Chính trong sự gần gũi bình tâm nầy, nó trở
thành người láng giềng khó quên.
Tôi không nhớ lúc nào tôi quen biết họa sĩ
Nguyễn văn Minh ở Virginia. Anh lớn hơn tôi nhiều tuổi, mỗi lần họp mặt chung
vui. Anh vẫn thường nhắc tôi có mặt. Anh thích đọc truyện tôi viết, và điều đặc
biệt. Anh đọc nội dung rất kỹ. Anh nhớ cả chi tiết, câu văn, nhân vật trong
truyện để bàn đến. Điều nầy cho thâý cái thú đọc sách ở anh, thưởng thức
và sẵn lòng phê phán, phản ứng trước một đoạn văn, một câu thơ của tác
giả nào đó. Anh bộc trực thẳng tính, cái tính của người miền Nam. Đáp lại tôi coi anh như một người anh trong tình cảm chân thật. Anh mất đi mấy năm qua
rồi.
Không hiểu sao tôi vẫn thường nghĩ đến, nhắc,
nhớ, hình ảnh anh. Tháng ngày cuối, nhiều lần hỏi thăm để đến với anh, nhưng
lần nào cũng nhiều lý do về phía người quen biết anh ngăn cản. Để rồi sau nầy
nghĩ tới, tôi thâý ân hận trong lòng. Câu anh nói. Anh viết dùm cho tôi
một truyện tình nào, nó tàn nhẫn vô nhân đạo, khó chấp nhận theo nghĩa thường
tình.. Lúc đó tôi không hiểu anh muốn nói gì. Anh muốn tôi bày tỏ những
ẩn ức gì cho anh qua ngòi bút. Mãi đến khi anh mất đi, tôi mới hư cấu hình
thành truyện Tình yêu tay dài. Nó có bẽ bàng, tàn nhẫn như thế nào.
Chắc chỉ ngần ấy thôi. Trút hết ra, nó vẫn hiền lành như bàn chân đất lội ruộng
của người miền Tây.
Lần theo nỗi chết, tôi lại nhắc đến tình người
đã khuất. Phải chăng một lúc nào đó khi cảm thấy cuộc đời, là những con
số không hoàn trả, chừng ấy mỗi người chúng ta rất dể thuận thời quay đầu ngó
lại. Người quen sau nầy, cái tình trên xứ người, còn chạnh lòng nhớ. Huống gì ở
một thời tuổi nhỏ, chung một mái trường, sống cùng đất địa quê nhà. Có tình nào
chân thật hơn ở buổi đầu mới lớn.?
Đã hơn bốn mươi năm qua, nói lại chuyện văn
nghệ, những người quanh tôi, kẻ còn người mất. Người buông tay bỏ nghiệp cầm
bút. Kẻ còn nặng nợ với cái tình năm xưa. Còn đeo đẳng là còn nghèo cơm áo.
Được chăng là niềm vui sống với chính mình, với anh em bạn hữu. Tôi chỉ viết
lại theo trí nhớ. Chuyện buổi đầu ở tỉnh lẽ, vùng đất Thất Sơn từ những năm 64,
65 về sau. Mượn câu chuyện bạn tôi, chuyện hàng xóm, những người cầm bút trước
năm 75, trong sinh hoạt văn nghệ cùng thời, như một tâm tình xớt chia.
Khởi đầu từ nhà thơ Thương hoài Diệp, tức Phạm
yến Anh. Người bạn thơ, có thơ đăng báo nhiều nhất trong thời điểm nầy. Không
mấy người biết, tôi rất thân với anh trên lảnh vực thơ văn, trong lúc người bạn
chí tình bên tôi là Hoài Nga. Cùng trường, sống cùng địa phương, chúng tôi gặp nhau,
khi cả hai có bài đăng báo, dĩ nhiên anh là người xuất hiện trước tôi trên văn
đàn. Lúc bấy giờ rất nhiều nhà thơ ở tỉnh tôi như các anh Mạc phong Lan, Nghi
do Thaí, Mặc lan Hoài, Hoài lan Vân, Song an Châu, Hàn Thanh, Ngô nguyên
Nghiễm, Mai thanh Tuyền . Nhiều thi văn đoàn thành lập, sinh hoạt, làm báo...
Lúc nầy Thương hoài Diệp không lập thi văn đoàn, mà lập nhóm Cô Đơn, rủ tôi gia
nhập. Bài giới thiệu nhóm đăng trên báo Thời Luận, do anh Ngọc hoài Phương
phụ trách trang văn nghệ. Nhóm khoảng năm sáu người, nhưng chủ lực viết bài
đăng báo, chỉ có tôi với anh.
Là một quận, tỉnh sát biên giới. Người phương
xa, vùng ngoài nghe nói dân bảy núi là mường tượng đến nơi chốn quê mùa lạc
hậu, võ biền. Chính bản nhạc Dòng An Giang của nhạc sĩ Anh Việt Thu đã mang đến
cho người nghe hình ảnh một đời sống thơ mộng hiền hòa bên dòng sông, ruộng
lúa. Tiếp theo là những ca khúc như Tám điệp khúc, Đa tạ..., một thời được ưa chuộng.
Người nghe chỉ biết chừng ấy, nhạc và tên tác giả. Cho đến bây giờ không có một
tài liệu rõ ràng nào về một Huỳnh hữu Kim Sang (AVT). Phải chăng bản chất hiền
lành, chất phác của người miền đồng bằng, nó lặng lẽ không thích nói về mình,
là sự thua thiệt khi bước ra cuộc đời, bên lề cuộc sống bon chen.
Nói đến Thất sơn, không biết lúc nào, khách
thường nghĩ đến bùa chú, thần linh. Ở đây miền đất xa thủ đô, xa ánh sáng văn
minh, náo nhiệt. Nhưng bao quanh khu vực địa phương, quả thực có rất nhiều
huyền thoại để nói về đời sống tâm linh, về chuyện bảy núi, thú rừng cây cỏ
thuốc men.. Châu đốc cũng là điểm hẹn cho các lần tranh giải võ thuật, ở thập
niên 50- 60. Các cuộc đấu võ đài sống chết với sự tham dự của các lò võ Việt,
Miên, Lào, thường tổ chức tại rạp hát Lạc Thanh, khu vực chợ. Lạ một điều, giới
trẻ ở đây sinh hoạt văn nghệ rất mạnh. Ban nhạc chuyên nghiệp với nhạc sĩ Hoàng
Bích, một thời nổi đình đám. Ban nhạc học trò có ban Solitaire(Phước, Đằng,
Thành, Tỏ) , với đàn guitar điện, trống, đầy đủ dàn âm thanh , khí cụ của
một ban nhạc đúng nghiã, phục vụ sinh hoạt địa phương. Phải nói vào thời điểm
nầy, bỏ tiền ra để mua sắm những dụng cụ, thành lập ban nhạc, không phải là một
số tiền nhỏ. Nếu không có Đằng (tiệm vàng Kim Quang), chịu chi, chắc không có
ai đủ khả năng để ban nhạc Solitaire thành hình. Nhiều tờ đặc san được các thi
nhóm in ấn, phát hành với giấy phép, kiểm duyệt của Ty thông tin. Tờ tập san in
đẹp là tờ Thế Kỷ Mới .

Ban Nhạc Solitaire
Một người bạn trẻ chịu chơi là Lưu nhữ Thụy. Lần đầu tiên
anh gia nhập sinh hoạt văn nghệ, bỏ tiền rủ tôi ra báo. Lưu nhữ Thụy, vẽ, trình
bày đẹp. Đặc biệt anh kẽ chữ theo lối chữ in rất có nét. Chúng tôi thực hiện
tập san văn nghệ Hiện Diện, hướng đi những người viết và nghĩ tự do. Số đầu
mang chủ đề Thực chất Tình yêu và Chiến tranh hiện tại. Lưu nhữ Thuỵ đứng tên
chủ trương. Tôi chỉ lo phụ trách phần bài vở cho tờ báo. Chủ biên, đề tên chung
Hoài ziang Duy, Mặc lan Hoài, Mộng Linh. Cộng tác gồm có Ngô nguyên Nghiễm, Trương
thảo Mộc , Hàn Thanh , Giang Thu, Phương thảo Huyền, Uyên Linh, Thạch Cương,
Mặc nghiệm Tường, Sa Duyên, L t Tho, Hoài lan Vân, Trần xuân Huyên,
Hoài Nga, Thùy Linh, Hoài linh Trang.

Sau đó không lâu Ngô nguyên Nghiễm đứng ra lập nhóm Khai
Phá, ra báo Trình diện tuổi đất, trước đặt địa chỉ ở Châu đốc , rồi dời lên
Sài gòn. Sau nầy Lưu nhữ Thuỵ về Sài gòn lập nghiệp, gần gũi với NN Nghiễm,
sống nghề vẽ cho các báo. Ngoài một số anh em khác tỉnh, khác miền nhập cuộc
với Khai Phá như Lâm Chương, Phạm nhã Dự, Hà Thúc Sinh,
Nguyễn lê La Sơn... Châu đốc còn có thêm các nhà thơ mới như Trịnh bưũ Hoài,
Nguyễn thành Xuân .
Không khác gì hoạt động văn nghệ với nhiều người viết ở
miền Trung, miền Tây lúc bấy giờ cũng đông đảo người cầm bút xuất hiện trên các
mặt báo chí, ở mỗi quận, tỉnh, địa phương đầy dẫy những anh em bạn trẻ mới lớn,
tham dự, xuất hiện trên văn đàn, như Yên uyên Sa, Mây viễn Xứ, Phù sa Lộc, Hạc
thành Hoa, Thy lan Thảo, Triều uyên Phượng... Vào thời điểm nầy, cây bút nữ viết
tùy bút, tạp ghi đều đặn trên các nhật báo là Hoài Dân ( cô bạn ở Nguyễn huỳnh Đức
, Phú Nhuận). Về phía thơ nói về lính có MH Hoài linh Phương. Thời đó anh em
học trò làm văn nghệ thường quen nhau qua thư từ trao đổi (thời đó chưa có cell
phone) , năm đó chúng tôi có thêm bạn phương xa Từ kế Tường, Trần hồng Nhan,
Triệu cung Tinh.
Tuổi trẻ sung mãn, buổi đầu ở người cầm bút, là những sáng
tạo kỳ thú bất ngờ, coi như tài không đợi tuổi. Dòng xuôi chảy đó thẳng tiến
về sau, định vị cho danh phận mỗi người, đường dài ở cuối cuộc chơi như một
mệnh nghiệp trong cuộc sống.
Tình hình sinh hoạt chung là vậy. Có điều đặc tính của
địa phương, của người miền Tây là bề ngoài rộn ràng xôm đám, nhưng thật ra, hề hà,
tụ lại chơi chung, buông ra là đường ai nấy bước. Không có gì ràng buộc. Hay
nói một cách khác là không thích có chân trong hội hè, đoàn thể, phe
phái. Điều nầy cũng là sự thua lỗ trong tính đoàn kết, thống nhất
trong vấn đề. Để rồi mỗi người tự liệu theo sinh hoạt đơn độc ở mình.
Trong văn nghệ mỗi miền có cung cách riêng. Văn nghệ sĩ
người miền Bắc di cư có vẽ kết đoàn hơn.. Văn nghệ miền Trung thì đông đảo anh
em bạn trẻ, hoạt động mạnh. Người miền Nam không có thói quen giao tế nầy
( kiểu khen chéo tay ba, rồi ai cũng được đánh bóng) . Viết bài khen lẫn
nhau, ngại mang tiếng nịnh bợ. Ngược lại nghe người khác ca tụng mình quá, thấy
cũng nhột. Đặc tính chung nầy, nó ăn sâu bao đời kiếp. Người miền Nam, hay dân
miền Tây, có thể vì đời sống thoải mái, thích ăn nhậu, thật thà, nói thẳng,
sống một mình, dễ bỏ qua. Dù rằng ở đâu cũng có người tốt kẻ xấu, đôi khi ngoại
lệ, thủ đoạn vượt bậc không chừng.
Phải nói tinh thần văn nghệ ở tuổi trẻ chúng tôi tự phát.
Giản dị một điều. Ưa thích là làm. Biết yêu cái đẹp, sống với tâm hồn lãng mạn
là gần với thơ văn. Ở đây hoàn toàn không có tính cách chính trị, đảng phái.
Vào thời điểm đầu ở lãnh vực nầy không ai biết, nghĩ gì về chính trị. Văn thơ
chỉ để bày tỏ những điều mình muốn nói. Như một niềm kỳ vọng, một tiếng hát cất
cao giửa trời cao biển rộng. Một lời tỏ tình, hay nỗi đau tình lở, một hiện
thực xã hội, đề tài chiến tranh. Tất cả là một tâm tình rất thực ở tuổi đời mới
lớn.
Cuộc chơi văn nghệ nổi đình đám, cùng lúc với cường độ
chiến tranh đi lên. Sau lúc rời mái trường trung học, điểm chuẩn là sau kỳ thi tú
tài 2. Tất cả tan tác theo dòng đời. Tuổi vào đại học hay lên đường tham dự vào
cuộc chiến. Không phải bằng văn thơ lãng mạn, mà bằng máu xương, mất mát hy sinh.
Anh em chúng tôi cũng xa nhau từ đó. Mỗi người còn nặng nợ với văn nghệ hay
không, cũng từ ở giai đoạn nầy, giai đoạn thực sự bước chân vào thực tế, đời
sống, sự nghiệp, hạnh phúc gia đình, lập thân. Có còn không tâm tình ngày cũ.
Có còn không đời sống văn thơ trong máu huyết. Có còn không mang cái nghiệp văn
nghệ vào thân. Và như vậy chúng ta gặp nhau, là gặp lại cái bút hiệu ngày
nào, xuất hiện ở tuần báo, tạp chí văn nghệ... Ở nơi nào đó, trên mọi miền đất nước,
khung cảnh thời gian nào đó. Quãng đời có xa, nhưng gần lại vô cùng với chữ
nghĩa trước mặt, để rồi thâý đó, nhận ra cái tình bạn hữu năm xưa, bắt nhớ lại
một thời qua.
Kể từ ngày vào quân ngũ, rồi ở tù về. Mười mấy năm anh
em mỗi người mỗi ngã.Bây giờ về sống nơi quê nhà, gặp lại Thương hoài Diệp. Bạn
bè bây giờ không còn ai, tất cã đã rời xa. Người bạn chí thân cuả tôi
cũng ra đi tìm đường tự do. Nhìn quanh quất người ở lại, là những người bạn một
thời tù, chung trại, cùng một mệnh số. Bạn văn nghệ không còn mấy tay,
thuận theo ý trời, chúng tôi lại chơi thân hơn trước, bởi cùng một hoàn cảnh
giống nhau, đứng về một phía. Thương hoài Diệp lấy lại tên thật Phạm yến
Anh.
Nói chuyện văn thơ, ở người có cùng một tâm hồn,
cách nhìn. Những sáng tác, viết chỉ để đưa nhau đọc. Hoàn cảnh chúng tôi, ở tù
ra xã chế hay chưa xã chế, vẫn bị rình rập theo dõi, báo cáo, trình diện, đi
đứng phải xin phép. Mỗi ngày lên khu vực chợ. Yến Anh chịu khó ngồi chờ ở
quán ca øphê cách nhà mấy căn, chờ tôi xong khách bệnh, để gặp nhau. Hay có lúc
tôi xuống nhà anh, một phòng học ở trong trường ( cho giáo viên trú ngụ, nơi
người vợ đi dạy). Chúng tôi thường ngồi trước hàng hiên, chuyện vãn. Nhìn
ra sân trường quạnh quẽ. Tôi nhớ cảm giác một thời đi học, mùa hè trường cũng
lạnh vắng như thế nầy. Còn bây giờ ngồi lại, tất cả một thời qua đi, mất hết,
buồn một thân phận chung.
Trịnh bữu Hoài, lúc bấy giờ làm chủ tịch hội văn
nghệ thị xã (sau nghe nói lên chủ tịch hội văn nghệ tỉnh). rủ chúng tôi viết
trở lại. Đề nghị in một tập thơ tình gồm các cây bút cũ phe ta, xen vào mấy cây
bút mới. Hỏi gồm có ai. Hoài kể một lô tên quen biết. Nghe cũng có
lý vui chơi. Mấy tháng sau, thực hiện in. Hoài cho hay bài bị kiễm duyệt,
loại bỏ, cắt xén hết. Một lần đó rồi thôi. Chúng tôi biết không thể có địa bàn
viết lại như trước, dù Trịnh bưũ Hoài tử tế với anh em cầm bút cũ, nhưng bây
giờ là việc mới.
Bạn bè lần hồi lo liệu ra đi theo chính sách của người
Mỹ can thiệp. Phạm yến Anh cũng nôn nóng chờ đợi. Tôi còn nhớ chút chi
tiết nhỏ nầy. Chuyện ở năm 90, buổi trưa gần 12 giờ, Yến Anh đến tìm tôi.
Anh cho hay mới bị mời làm việc ( danh từ bị thẩm vấn ). Điạ điểm trong phòng
khách sạn Mỹ Lộc. Hai người thẩm vấn anh từ Sàigòn xuống. Nhìn gương mặt còn
âu lo, tôi nghĩ bạn mình nói thật. Nhất là nội vụ vừa mới xong khoảng năm
phút. Trên đường về phải ngang qua nhà tôi, cách đó một dãy phố. Theo Yến
Anh nói lại nội dung. Họ nói ba điều bốn chuyện hỏi thăm đời sống, rồi
vào vấn đề thẳng. Anh có muốn đi Mỹ theo diện HO không? Tôi đâu ở
tù đủ 3 năm để được đi. Anh đừng lo, chúng tôi làm lại giấy ra trại, hợp thức
theo tiêu chuẩn để anh ra đi sớm. Nhưng, với điều kiện, sang đó anh phải hoạt
động cho chúng tôi. Anh về suy nghĩ lại, chúng tôi không bắt buộc, nếu đồng ý,
thì cho biết. Yến Anh hỏi tôi thâý thế nào? Tôi không biết tình hình,
sinh hoạt gì bên Mỹ. Theo công tâm mà nói. Nhận lời để được đi, làm hay
không làm, cái nào cũng khó sống.
Và như vậy Yến Anh ở lại. Như bao người khác,
sống cầm hơi theo năm tháng, mong mõi có phép mầu sáng sủa, khắm khá cho
đời mình.
Ra hải ngoại, tôi cầm bút viết lại, chung cùng với anh
em bạn hữu ngày trước 75, bạn văn nghệ có, bạn nhà binh, bạn tù hay những người
mới quen sau nầy. Tôi viết, như thể cần viết, nơi chốn dung thân, tôi tìm
lại chính mình. Rất nhiều, qua ngòi bút mọi điều mọi chuyện để khỏa lấp
đời sống, những đau thương chịu đựng, và gần nhất là sự cô độc nơi xứ
người. Một người mà tôi không ngờ, rất ư là Châu đốc . Nhà văn , họa sĩ
Phạm Thăng, ở Canada. Anh viết rất nhiều, rất rành về Châu đốc, từ câu
chuyện địa danh, đến tên tuổi thầy cô, kỹ niệm sống ở đó. Biết ra, với anh dù
không là nơi sinh trưởng, nhưng cả một quãng đời niên thiếu anh đã lớn lên, học
hành ở đây, khác gì một quê hương thứ hai như anh đã nói. Một người rất
dễ mến nữa là là nhà văn Vũ Thất, anh chỉ thỉnh thoảng viết, thích đọc người
khác viết hơn.. Hầu hết những người văn nghệ quê nhà cùng thời, mỗi người một
điều kiện khác nhau sống nơi xứ người. Ở đời sống mới khó khăn ngôn ngữ, đa số
hầu như vì sinh kế không còn viết, hay không còn viết nổi nữa. Một thời tuổi
trẻ lãng mạn qua rồi. Thấy có Song An Châu còn yêu văn thơ, còn xông xáo, nhưng
tuổi cũng đến lúc về hưu. Mặc lan Hoài còn có khả năng sáng tạo (đọc qua mấy
bài thơ của anh) nhưng không thâý anh xuất hiện đâu cả, ngoại trừ tôi gọi lâý
bài cho báo tôi .
Quê nhà còn lại mấy người, sáng tác đều đặn như Ngô nguyên
Nghiễm, Nghy do Thái, Lưu nhữ Thụy.
Cuộc đời tròn xoay, có xa, có gần. Lần về quê
nhà, Yến Anh đưa tôi mấy bài thơ sáng tác sau nầy. Tôi đọc, không ý kiến nhiều.
Tôi biết từ nay anh không còn là một Thương hoài Diệp lãng mạn ngày nào. Thơ
anh bây giờ trần trụi, với thực tế khổ đau, nói thẳng nói thực. Như bốn câu
trong Giữa cảnh đời sắc
không.
Giữa những màu mè, những giọng cười sảng khoái
Sau những tâng bốc khoe khoang còn lại
Một mình tôi, một khoảng trống chán chường
Hay mấy câu trong bài Thư cám ơn người
Thương cái thời gian nan, aó lính
Mỗi lần tan hàng, mỗi lần cố gắng
Mà bây giờ lực bất tòng tâm
Mà bây giờ đã ba mươi năm
Thời gian biến ta thành ông già quẫn trí
Đời sống văn nghệ, đầu óc của người làm văn
nghệ năm xưa bây giờ cùn khổ, cạn kiệt như thế đó. Nếu tôi không bước ra thế
giới bên ngoài, chắc tôi cũng cùng chung số phận. Một người cầm bút không có
đất địa văn học, khác gì người ca sĩ không có sân khấu. Một người thích đọc
sách, không trao đổi được gì trong sáng tạo, tư tưởng mới, kỹ thuật viết. Không
hội nhập đồng điệu với một nền văn học, thì làm sao đời sống không buồn nản,
khi chính mình đọc mình, rồi không đi tới đâu. Nói cho cùng, muốn cũng
không làm sao có, không có sách báo, tư tưởng nào, ngoài sự rập khuôn qui định
Không có chọn lựa nào khác ngoài không đọc..
Cho đến tháng 8 năm 2006, nhận tin bạn mất đi.(Anh mất
đi ở tuổi 65). Nghe tin, lòng tôi cảm thấy đau xót vô cùng. Đến tháng 3
năm 2009 đến lượt Mạc phong Lan cũng ra đi trên xứ người.
Nhiều đêm trên đường đi làm trở về. Tôi đã
nhớ rất nhiều về kỹ niệm, tình thân ngày cũ. Cứ tưởng trở lại quê nhà, từ
nay không còn người bạn bên bàn càphê, nói chuyện năm xưa, chuyện đất trời thời
cuộc. Tôi cãm thấy nuối tiếc xót xa. Đến với nhau từ buổi đầu,
duyên tình văn nghệ, gắn bó tình thân từ đó, cho đến lúc bạc đầu.. Xa nhau, rồi
gặp lại. Rồi xa nhau. Nhưng lần nầy, thực là lần cuối trong đời. Tập thơ,
bạn bè giúp Phạm yến Anh in ấn ở quê nhà. Anh có gởi tôi. Không đẹp về kỹ
thuật, chắc in lậu, nhưng chan chứa tình anh em, sống thật lòng.
Nhớ Yến Anh là nhớ bài Aó Kỹ niệm. Đó là bài thơ lần cuối,
mấy năm trước phụ trách làm tờ báo, anh nhờ đưá con chuyển qua mấy bài không bỏ
dấu, tôi phải đánh lại.
Áo kỹ niệm
Chợ
trời thấy aó em treo
Bốn
mươi năm mới biết nghèo là đây
Aó
ngày xưa sao ở đây
Em
đem bán rẻ qua ngày hẩm hiu
Chưa
bình minh đã xế chiều
Chưa
sung sướng đã phải nhiều đắng cay
Nhọc
nhằn thân ngựa dặm dài
Nỗi
vui cố tạo mỗi ngày một vơi
Niềm
tin ngày tháng rã rời
Cho
tôi sống lại quãng đời hôm qua
Mùa
Xuân là của người ta
Mùa
đông tôi đó, nắng tà phai phôi
Ơi
em, lòng bổng nghẹn lời
Thèm
làm sao một nụ cười cảm thông
Một
mình đi giữa phố đông
Áo
vu qui thấy bán trong chợ trời
Tôi chọn bài thơ nầy. Bài thơ buồn như đời sống,
bẽ bàng trong tình yêu nghèo khó, không dấu diếm một hoàn cảnh thực cũa
người ở lại, và hơn hết là chất thơ của Thương hoài Diệp ngày cũ. Như tôi
đã nói, tôi chậm. Buồn mà không nói, không viết lời ai oán mấy năm trước, không
nói gì hết. Là nỗi lặng. Nhưng bây giờ trong nỗi nhớ muộn màng nầy, quá khứ
tưỡng chừng qua nhanh, thật ra lại sống gần kề.
Nói về một Thương hoài Diệp năm xưa, hay Phạm
yến Anh mất đi, phải chăng là cái cớ để sống hoài niệm về ngày cũ, một thời tâm
hồn còn đơn giản, trong lành, chưa tất bật với đời sống, nặng nợ aó cơm. Ở đó
thuở đầu đời yêu em, biết lãng mạn, biết làm thơ. Những bài thơ tình dẫn
sâu vào đời sống, nghiệp dĩ sau nầy.
Hơn bốn mươi năm sau nhìn lại một quãng đời qua,
những mái đầu đã bạc. Chiến chinh, sương gió, tù đày, lỡ làng, mất mát. Cái giá
chúng ta phải trả, là hiện thực đời sống bây giờ. Tâm tình chúng ta còn giữ lại
phải chăng là những bài thơ muộn phiền. Một câu, một lời thôi để nhớ, là hạnh phúc
cho người cầm bút .
Một vầng trăng lơ lững. Một rừng cây trút lá.
Rồi thôi, cuối cùng tựa như một dòng sông xuôi chảy.
HOÀI ZIANG DUY