CHỮ HIẾU Ở NHÀ QUÊ
Lương Thư Trung
Phàm làm con là phải hiếu đạo.
Phép xử thế của người nhà quê là thế. Không hiếu đạo là kẻ vô nghì, bị chòm xóm láng giềng khinh miệt,
chê cười là đứa con bất hiếu. Không tách rời khỏi láng
giềng mà như bị cô lập giữ dòng sống nơi thôn xóm vốn lấy tình thân ái làm mối
dây giao tiếp. Xem vậy từ cổ chí kim nơi thôn
dã coi đạo hiếu là đạo trọng, là nền tảng mọi đạo đức của con người. Dù tiền
muôn bạn vạn, lúa vựa lúa kho, ruộng vườn cò bay mỏi cánh mà ăn ở với cha mẹ
không hiếu thảo, đứa con bất hiếu coi như đồ bỏ đi nói gì đến vật chất bạc tiền
lúa ruộng trâu bò chỉ là vật ngoài thân chết rồi phủi hai bàn tay trắng chẳng
mang theo được gì mà còn bị bia miệng để đời.
Ở nhà quê, phần đông chuyên
việc đồng áng, ít ham học như dân chợ búa thành thị. Nên dân
quê phần đông ít học. Thế hệ già lại càng ít người biết
chữ quốc ngữ. Họa hoằn lắm mới có người học tới lớp nhất
lớp nhì, nhưng đa phần lại chịu khó học chữ Hán. Chữ Hiếu nơi thôn quê
được hiểu biết qua các ông đồ dạy chữ Nho mà quyển Minh Tâm Bửu Giám là một cuốn
sách lúc nào cũng được lật tới lật lui tối ngày, nên ngày xưa người nhà quê phải
chẻ hai miếng tre mỏng kẹp cái gáy cho sách đừng bị rách. Do vậy, đạo Hiếu ở
nhà quê một phần được hấp thụ qua sách vở minh tâm. Tuy nhiên, cái đạo Hiếu ấy
càng suy nghĩ cho kỹ đó chính là cái đạo tự nhiên, ông bà tổ tiên để gương lại
cho cha mẹ, cha mẹ để gương lại cho con cháu rồi cứ thế từ đời này qua đời khác
mà truyền tử lưu tôn làm thành cái đạo sống ở đời rất độc đáo của làng mạc, một
đạo sống làm nền tảng văn hóa Việt Nam nơi làng quê luôn mang lại cho gia đình
niềm an vui hòa thuận mà không phải hao tốn công sức tu luyện.
Do có trải qua những năm
tháng được sanh ra và lớn lên từ nhà quê, phần đông ai cũng nhận ra chữ Hiếu được
thể hiện qua lòng kính trọng thương mến của con cái đối với cha mẹ, biết vâng lời
cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ bằng chính cái tình máu thịt mà cha mẹ đã mang
nặng đẻ đau sinh dưỡng ra mình. Nhận ra điều ấy để thấy đạo Hiếu ở nhà quê
không lệ thuộc nhiều vào kinh điển sách vở xưa mà văn hoá Việt Nam phần nào chịu
ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa qua tứ thư ngũ kinh, đặc biệt chịu ảnh hưởng về đạo
làm người của Khổng Tử. Những tấm gương hiếu đạo và những lời dạy về đạo làm
con trong kinh sách phần nhiều nghiêng về phần luân lý hơn là dựa vào cái tình
máu thịt ruột rà giữa cha mẹ và con cái. Nên sách vở khuyên dạy về cách báo hiếu
cha mẹ đó và đồng thời cũng bó buộc phải làm theo như
vậy đó, không cần biết có hợp hay không hợp với hoàn cảnh của con cái và gia
đình.
Cái tình
trong đạo Hiếu là cái tình thâm mà chắc chắn không sách vở nào ghi chép lột tả
ra cho hết được. Thương cha mẹ
không gì bằng thấy cha mẹ cực nhọc mình không nên ăn
chơi phung phí là hiếu. Thấy cha mẹ không vui mình chẳng dám
đùa giỡn vui đùa. Thấy cha mẹ đau yếu già nua, con cái lo miếng cháo miếng
cơm thuốc thang chữa trị là hiếu. Đầu mùa lúa có hạt gạo thơm
dâng cho cha mẹ nồi cơm lúa mới. Đầu mùa mưa, bắt được con cá
mới lên đồng còn mập thè lè cặp trứng dâng cha mẹ miếng cá ngon. Cha mẹ
nào cũng muốn con cái hòa thuận thảo ngay, mình không dám nghịch lẫn nhau là hiếu.
Trong gia đạo anh em hòa hiếu, ngoài xã hội không ai dám chê
cười. Bằng ngược lại anh em tranh giành nhau từng tấc đất bờ ao, từng bụi
tre ngọn gáo làm cha mẹ phải rầu buồn vì con cái bất hòa, cả làng xóm chòm thôn
ai cũng chê cười, đời đời bị bia miệng mai mỉa chế nhạo.
Đạo Hiếu ở
nhà quê chú đến cái lòng thành hơn là cái nghi tiết nhỏ nhặt, rườm rà. Chữ hiếu càng nặng lại càng được giữ
chặt trong lòng hơn là phô bày ra chiều trình diễn. Cái
tình máu mũ ruột thịt là cái tình muôn đời như dòng nước ngọt không cắt rời ra
được. Nó bền mà ngọt. Nó mạnh
mẽ mà không khô. Nó thực tế mà không ra chiều chú trọng
về mặt vật chất. Cái đạo Hiếu nó hiển hiện đó mà cũng
thâm thâm diều diệu đó. Ai có lòng hiếu thảo sẽ nhận ra ngay, không cần
phải giải nghĩa cầu kỳ, không cần phải trích dẫn ra hai mươi bốn tấm gương hiếu
để ngày xưa trong Nhị Thập Tứ Hiếu bên Trung Hoa để mà noi theo.
Ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi không khí gia đình
riêng, mỗi người dân quê có cách riêng để đạt đạo Hiếu mà không phải bắt chước
gương hiếu này hạnh thảo kia cho mình. Chính vì vậy mà
chữ Hiếu ở nhà quê mỗi thời mỗi khác, mỗi nơi mỗi khác, mỗi hoàn cảnh mỗi khác
nhưng có chung nhau tình máu thịt ruột rà giữa con cái đối với cha mẹ rất thấm
thiết không có luật lệ nào can dự vào đạo lý gia đình nơi thôn quê được. Xem như điều này cũng không trái với đạo Khổng bàn về chữ Hiếu.
Chẳng hạn cũng cùng chữ Hiếu, khi được các đệ tử hỏi về cái
nghĩa lý của nó, mỗi người được Khổng Tử trả lời khác nhau. Với Mạnh Ý Tử,
Khổng Tử đáp :”Vô vi”; với Mạnh Vũ Bá, Khổng Tử đáp:”Phụ
mẫu duy kỳ bệnh chi ưu”; với Tử Du, Không Tử đáp:”Kim chi hiếu giả, thị vị năng
dưỡng. Chí ư khuyển mã dai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ?”; với Tử Hạ, Khổng Tử đáp:”Sắc nan. Hữu sự, đệ tử phục kì lao, hữu tửu tự, tiên sinh soạn: tằng thị dĩ vi hiếu hồ?”
Trong giới
thức giả tiền bối, dường như người nào thành nhân chi mỹ cũng coi chữ Hiếu là
trọng. Một Vương Hồng Sễn, khi tuổi
trời đã chín mươi, mà mỗi lần nhắc lại mẹ cha ông đều nghiêng mình nhỏ lệ để tỏ
lòng hiếu đạo với bậc sanh đẻ ra mình. Một Nhất Hạnh với Bông
Hồng Cài Áo, một Võ Hồng với Một Bông Hồng Cho Cha. Đặc biệt, với học giả
Nguyễn Hiến Lê với Làm Con Nên Nhớ đã có lời sám hối:” Tình thương của cha mẹ tự
nhiên như nước chảy xuôi, mà lòng hiếu của con phải nhờ giáo dục, nhờ kinh nghiệm
rồi mới có.(...) Nước chảy xuôi hoài cho tới khi cạn. Cha mẹ cứ muốn giúp con
hoài cho tới khi chết.(...) Trong cái trào lưu sinh hoạt
vĩnh viễn bất tuyệt của loài người, nước đã chảy đi thì không bao giờ trở lại về
nguồn. Hỡi các bạn trẻ sắp lập gia đình, như dòng nước sắp bắt đầu rời suối,
các bạn nên ngừng bước lại một chút, quay lại nhìn về nguồn để hiểu nguồn thì
trên đường đời các bạn đỡ phải ân hận, đỡ phải sám hối như hôm nay tôi sám hối
trên bàn viết, trước mặt bàn thờ ba má tôi mà lư trầm đương lặng lẽ toả hương.”(Bách Khoa số 207 ngày 15-8-1965. Phật lịch 2509)
Người nhà quê mấy ai được đọc
những sách vở viết về lòng hiếu thảo ấy trong Luận Ngữ của Khổng Tử, của Nhất Hạnh,
Vương Hồng Sển, Nguyễn Hiến Lê. Thành ra, đạo Hiếu nơi người
nhà quê là cái đạo tự nhiên như trời có gió, nước có nguồn, cây có bóng mát làm
cho phong phú thêm tâm hồn của họ vốn đã chất phác giản dị hiền hoà như mái lá
ven sông càng ngày càng phong phú thêm nữa. Nghèo mà sạch.
Ít học mà thơm lâu là vậy. Lòng hiếu thảo ấy là cội
nguồn của một nền văn hoá rất ư gần gũi, ai cũng biết,
ai cũng thấy, thời nào cũng cần giữ gìn. Trở về nguồn không
gì bằng trở về nhìn lại những tình tự rất tha thiết, rất thực thà của dân quê
trong đạo Hiếu đối với cha mẹ.
Trong trời đất con người là
chánh. Trong gia đình đạo Hiếu là trọng. Không làm tròn đạo Hiếu là một thiệt thòi lớn của kiếp làm người.
Không ai bắt tội mình kể cả cha mẹ. Mà chính mình sẽ tự
trách mình suốt đời nếu để lỡ một dịp may không làm được những gì một người con
cần làm để cha mẹ vui lòng.
Mùa Vu Lan 2003
(*) Mạnh Ý Tử hỏi về đạo hiếu,
Khổng Tử đáp :”Không trái”; Mạng Vũ Bá hỏi về đạo hiếu,
Khổng Tử đáp:”Cha mẹ chỉ lo cho con bị bệnh tật”; Tử Du hỏi về đạo hiếu, Khổng
tử đáp:”Ngày nay người ta cho hiếu là có thể nuôi cha mẹ. Nhưng đến chó, ngựa
kia, người ta cũng nuôi, nếu không kính cha mẹ thì có khác gì
?”; Tử Hạ hỏi về đạo hiếu, Khổng Tử đáp:”Khó ở chỗ giữ được nét mặt vui
vẻ. Khi cha có việc, con phải khó nhọc (để giúp cha mẹ), hoặc khi có cơm rượu,
mời cha ăn uống, như vậy đủ gọi là hiếu chăng? (Theo
Luận Ngữ, Nguyễn Hiến Lê, nhà Văn Nghệ xuất bản, Hoa Kỳ , 1994.)