Kinh cùng (cùn) chợ ngang
Lưu Nhơn Nghĩa
Xứ Xà Tón (Châu Đốc), nhiều
người xưa than phiền làm ăn không lên vì
thế đất " kinh cùng chợ ngang ".
Chợ có hai mái ngói chồng lên nhau , cất theo kiến
trúc giống chùa Miên. Hai đâù chợ có hai đuôi rắn, cất năm 1906 , bằng đá núi ,
sườn sắt, trong chợ thời đó chỉ có chừng dưới mười tiệm bán chạp phô , như chú
Chín Hiến, ông Tào Cua, bà Xí Hộ (bà nầy rất dữ ), chổ bán hủ tiếu của Kiểm Án, ngoài ra còn có bàn máy may của ông
Bảy Sinh, may quần Cành Tăng, quần cheo
,áo phá lấu .
Chợ có những cây cột
bằng đá núi vuông, khi có gánh hát dọn đến, chỉ cần che đệm chung quanh, sân khấu
khoãng giữa chợ, chỉ cần phân nửa chợ cũng
đủ chứa khán giả Sau buổi trưa, người
buôn gánh bán bưng về, chợ trống, dành
cho chú Sáu Nhỏ kêu Lô Tô, nghe bà Miên hát đối với ông say rượu. Ban đêm, chợ là chỗ dành cho bầy chó hoang
tránh mưa gió, và con Điên kêu khóc mẹ
lanh lảnh những đêm trời lạnh. Hai đầu chợ nằm theo hướng Bắc Nam.
Dọc theo hông chợ phía Đông , nằm ngay đầu kinh là chợ cá, rau
cải của dân gốc ngoài kinh độc quyền,
không ai tranh giành . Dọc theo hông chợ
phía Tây, dành cho người Miên bán thổ sản trong Sóc mang ra , như trái
cây, giá, ghém chuối, dây cóc, đắng dàn trời (trị sốt rét ), cốm dẹp , trái điều,
khoai từ, khoai núi, nhộng luộc, măng, dây mây, gà vịt ...
Cuối đầu chợ hướng
Tây Bắc là khu bán quà bánh, ngon nhứt là bánh hỏi của bà Hai Ngỡi, nồi bánh
canh của ý Hiệu, bánh tầm của chị hai
Huê, bún bò xào của bà Bảy, chè đậu trắng của dì Hai Hoẻn, xôi bánh phồng bánh
ít trần của dì Ba Lòng . Những người nầy đã đi qua, món ăn như còn trên lưỡi
tôi. Cám ơn .
Buổi sáng, người Việt
người Miên, ai nói tiếng người ấy, đều hiểu
nhau, đại khái chỉ trả gía .
Tên chợ là Swaton
( khỉ kéo ). Xưa khu chợ còn là rừng
dừa , khỉ nhiều lắm, đông đến đỗi dám ra kéo người ta .
Chợ quê tôi đại để như vậy, muốn nói thêm không đủ giấy viết. Chợ cất năm 1906 , chiến tranh làm cháy chợ năm
1970 , kiến trúc chợ nằm yên không đỗi trong đầu tôi . Đó là CHỢ NGANG .
Con kinh Tri Tôn đào
xong phải trước năm 1906 . Kinh đào từ
sông Hậu Giang thẳng vào phía Tây , đâm
ngay đầu chợ. Ban đêm, nhìn từ trên cao,
con kinh đào như cây dao bạc đâm thẳng đầu
chợ. Xa xa, những dãy núi như rồng như
hổ nằm chờ thiên lịnh. Hai ngôi Chùa Dưới,
Chùa Trên trấn hai bên không xuễ, thêm ngôi chùa trên đồi Chun Phnum trợ lực, ngôi Đình Việt Nam lãnh nguyên mũi dao,
bên kia, Chùa Ông Bổn chịu mặt hông
Mãi lo chống đở mệt
nhoài , đất không sinh được nhơn tài nào ,chỉ sinh dân nghèo , nghèo ơi là
nghèo ! Bao nhiêu năm qua, chợ cháy rồi , ngôi Đĩnh bị san bằng làm công viên . Đầu kinh bị lấp ra mấy
cây số ,chợ sẽ dời ra xa.
Con dao bạc đã gẩy,chợ
không còn, núi bị lấy đá, núi bị thương
chết dần , mấy ngôi chùa xưa già yếu, bịnh mối mọt, không còn sống bao lâu nữa,
chùa Ông Bổn thành trụ sở Chữ thập đỏ .
Đó là xứ KINH CÙNG,
ai tới đây là cùng đường, hay KINH CÙN , cùn mục. CHỢ NGANG, chợ nằm ngang, đưa hông cho người
đâm. Chợ
không còn , kinh bị lấp, mà sao dân chưa khá nỗi, chờ đến khi nào? Khi
nào ta gặp Hớn hoàng, chúng sinh sẽ hết phàn nàn số căn.
Lưu Nhơn Nghĩa