|
Miên man nỗi nhớ
Trần Doãn Nho
Ký ức là một tài sản vô giá của con người. Nó
là bộ máy nhớ. Nhưng không phải ai cũng muốn nhớ. Như tôi chẳng hạn, hay
quên. Thích quên. Cố quên. Tôi không muốn bị phiền hà bởi quá khứ. Vả lại,
trí nhớ mình kém. Khi cần phải nhớ gì thì chỉ nhớ đại khái.
Có nhiều người thích nhớ. Muốn nhớ. Tìm cách
để nhớ.
Chẳng hạn như nhớ những lần hành quân. Nhớ
những trận đánh oai hùng. Nhớ đồng đội. Nhớ cảnh bom rơi đạn lạc. Nhớ những
đau thương, đổ vỡ. Nhớ những đau khổ, tủi nhục khi ở trại tù. Nhớ tháng
ngày lao đao bon chen kiếm sống.
Có người thích nhớ để vui
và quên hiện tại. Có người thích nhớ để giận hờn, chua chát với những gì
không còn nữa. Có người nhắc lại quá khứ để làm động lực đấu tranh cho một
tương lai tươi sáng hơn.
Vân vân và vân vân.
Cũng thế, Lương Thư Trung nhớ. Qua bút danh
Hai Trầu, tác phẩm mới nhất của anh, Lá Thư Từ Kinh Xáng, là nỗi nhớ trải
đều trong hơn 50 lá thư, viết từ năm, bảy năm nay.
Nhớ nhiều. Nhớ chi li, đến từng chi tiết. Nhớ
gì vậy?
Ra đi nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời
chân đi.
Không. Anh không nhớ
những lần “kỳ ngộ” kiểu người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì
hay không. Ký ức anh hướng về một nơi khác mà có lẽ không hiếm người muốn quên:
làng quê. Quê, rất quê. Không phải là chữ quê chung chung mà người ta nhắc đến
để tỏ ra rằng mình cũng có làng, có nước hay nhắc đến như một nơi thỉnh thoảng tạt về ngắm
cảnh: đồng lúa vàng, lũy tre xanh, trăng thanh gió mát...với mục đích quên
đi bụi bặm thị thành. Chuyện đời đâu phải nhớ nhớ quên quên một cách dễ ợt
vậy cháu. Chú Hai là dân ruộng lâu đời mà! Bàn chân của chú lúc nào cũng
bước xuống ruộng, xuống bùn gần hơn là mang đôi guốc vông, đôi dép Lào, đôi
dép Nhật cháu à! (…) Da chú Hai còn mốc cời, nổi vẫy như vẫy rồng vì phơi nắng,
phơi mưa; tóc chú còn khét mùi nắng gắt mùa hè nóng đổ hào quang như lửa đốt;
áo chú còn lắm lem mồ hôi muối …
Đó là hình ảnh một nông
dân thứ thiệt. Và là thứ thiệt, anh vẽ ra khung cảnh làng quê, với mọi sinh
hoạt từ sáng sớm đến đêm khuya, từ ngoài sông cho đến bếp lửa. Từ con giun
con dế cho đến con cá con chim. Từ đất, đá, bụi tre cho đến cái nơm, cái
lưới. Cùng với chúng là những vui, những buồn, những nhọc nhằn, lam lũ. Cùng
với chúng làø tấm lòng của một người gắn bó với ruộng đồng và yêu ruộng
đồng như yêu mình. Khác với nhiều người, trong đó có tôi, văn anh không
thuần để vui hay để buồn hay để không làm gì cả, mà để “tải đạo”. Đạo ở
đây, chẳng có gì cao siêu phức tạp. Đó là cái đạo của ruộng đồng, của xóm
giềng, của tình người trong một khung cảnh sống tém tủm, chơn chất. Qua Lá
Thư Từ Kinh Xáng , anh hy vọng gửi “chút tình quê, tình đất và tình người” chia sẻ “những nỗi niềm của một người làm
ruộng” (Phi lộ)
“Chứ ba cái vụ lội bùn lội ruộng, lặn đìa lặn
lung, nôm cá dỡ chà, giăng câu đặt lờ là tui không thiếu món nào, nên tui
quen cái nắng mưa kham khổ, trở trời trở gió nghịch đời. (...) Ngày ngày
tui nghe gà gáy là cơm gói mo cau ra ruộng, rồi đợi cho chùa công phu tới
hiệp chót mới bò dìa tới bờ tre. Vậy mà riết rồi quen như mỗi lần tui lặn
xuống sông móc bùn bồi vườn là cứ ở trần, cầm tới dây vàm sau lưng đôi bò
và cái cày là miệng tự động hô “phá”, “ví” như mắc phải khẩu nghiệp” (106)
*.
“Cơm gói mo cau”, “bò
dìa”, “như mắc phải khẩu nghiệp”! Khổ đến thế thì thôi.
Tác giả nhớ gì nào?
Anh nhớ cảnh: Trăng trên
lá, trên cây, trên cánh đồng nước ngập tháng Tám, trên con rạch, trên dòng
sông, trên con đường làng, đâu đâu cũng là trăng…Trăng chạy, trăng vui,
trăng giỡn, trăng tắm ướt cả cánh đồng mênh mông nước là nước…(…) trăng giả
gạo chài ba chài bốn; trăng cút bắt; trăng ca hát trên sông…trăng quết cốm
giẹp; trăng “ngồi dựa bụi môn” kiểu Lục Vân Tiên…(47, 48)
Anh nhắc đến những núi Ba
Thê, núi Sập, Hang Tra, Trà Kiết, Vịnh Hanh, Mặc Cần Dưng , Xà Tón, An Bình
A, An Bình B, Chắc Cà Đao, Lấp Vò, Bồ Hút, Thủ Ô, Gia Vàm, Xà Tón, Mái Dầm,
Cái Côn, Mương Khai, Cái Vồn, Vàm Ba Bần, Cái Tàu Hạ, Nha Mân, Tân Hiệp,
Tân Hưng, Tân Quới…Chỉ nghe cái tên không thôi cũng khiến cho lòng nao nao
nhớ về vùng đồng bằng sông nước miền Tây.
Anh nhớ cái thú làng quê:
bắt chim: “Khởi đầu đi bắt chim là chống xuồng xuống đồng lớn, đi vòng vòng
mấy vạt lung, vạt đất lúa dầy bịt chim trích làm ổ nhiều vô số kể. Mặc tình
mà lượm trứng chim. Có hôm gặp thời may đi nhằm vạt đất le le hò hẹn dìa đó
làm ổ nhiều...lượm trứng le le gà nước cả mấy khoang xuồng vậy đó” (...)
Còn tháng 10, tháng 11 âm lịch mình thì chim thay lông. Chim thay lông nó gặp
mình là nó bay không xa. Chỉ cất cánh lên vài ba thước là đáp xuống rồi hà
(...) Đi bắt chim như vậy vui lắm, và có bữa trúng ổ được chim nhiều lắm. Chim
thay lông vừa mọc lông măng, ối thôi nó béo kỳ lạ lắm.”; bắt chuột: “...chuột tháng mưa béo ơi là béo”; bắt
cá: “Cá tát đìa tháng ba tháng tư cặp trứng thè lè xỏ lụi nước trui, dù cá
trê hay cá lóc gì cũng không có món nào ngon cho bằng...”; và nhiều thứ
khác: “Rồi nào là mùa xoài, mùa mận, mùa ổi, mùa vú sữa, mùa dưa hấu, dưa
gan, mùa dặm cù, mùa soi cá soi tôm, mùa giăng câu đặt lọp, đặt lờ, mùa bắt
ếch bắt nhái, mùa cá ra sông nổi lờ đờ đầy mặt nước”. (359-361). Chao ôi,
nghe ông nông dân Hai Trầu kể mà phát thèm, muốn chuyển về định cư luôn nơi
kinh xáng Bốn Tổng của ổng!
Anh nhớ người: những chị
Hai Tân An, anh Tú Lé, anh Tư Minh, Tư Thiện, chị Hai Văn, chú Minh, anh
Bảy Láng Linh, chú Bảy Luân sắp nhỏ, hai cháu Long Phụng…Nhưng cái tên đầy
âm vang Nam Bộ.
Anh nhớ ruộng: cái tầm để
đo đất dài 2 thước 9 tấc 33 phân. Tầm
cắt dài hơn. Mỗi tầm 3 thước. Một công là 144 tầm vuông...
Anh nhớ cây cỏ: cỏ mồm
lông, cỏ mồm đắng, cỏ ống, cỏ chỉ, cỏ lông heo, cỏ gạo, cỏ chát, cỏ cú,
…năn, lác, rau dừa, rau muống, rau chay, me đất, cỏ xước, nghễ…
Anh nhớ tiếng nói. Tôi yêu
tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. Lá Thư Từ Kinh Xáng có thể nói là một kho
từ vựng dân gian phong phú. Lời văn, ý văn, không khí…nhất nhất Nam Bộ: bộn
(nhiều, bề bộn), cái mững gì (cái quái gì), nhiều quá mạng, chú thím và sắp
nhỏ (các cháu nhỏ), đi đồng đi bái, sứt móng chưn (sứt: mất), dòm trực lại
cái thơ quá dài (nhìn ngay lại), đi dìa, bên bển, dài lượt bượt, mần ruộng
(làm ruộng)…
Tác giả nhân tiện cho ta
biết nhiều chuyện lý thú dính líu đến một số từ ngữ hoặc cụm từ (đặc ngữ)
quen dùng mà ta không biết nguồn gốc từ đâu hoặc biết nhưng biết sai:
- một
cây: ăn chơi một cây, lấy le một cây, điệu một cây...Một cây do chữ Nho
“nhứt trụ kình thiên” = bẻ nạn chống trời. Sau này, một lượng vàng cũng gọi
là một cây vàng, nhưng nghĩa khác hẳn
(57)
- cũng:
đơn giản mà đa nghĩa, tùy cách dùng và hoàn cảnh dùng. Anh cho biết Nguyễn
Du dùng đến 128 chữ cũng trong truyện Kiều. Nguyễn Đình Chiểu dùng 37 lần
(trong 2076 câu). Trong cách dùng chữ cũng, khác nhau một trời một vực chứ
không phải hơi hơi như nhiều người tưởng (340). Người thị dân dùng chữ “cũng” cho nó qua
chuyện, cho êm ái tình bằng hữu: cũng hay, cũng được, cũng xong; còn người dân
dã, thôn quê thì dùng chữ “cũng” để tỏ lời khiêm cung rất mực: lúa mùa này
cũng đỡ, con nhỏ này coi mòi đức hạnh cũng khá...Nhân chữ cũng, tác giả
nhắc lại một giai thoại (công án thiền), là câu chuyện giữa sư Thần Hội với
Lục Tổ Huệ Năng “cũng thấy cũng chẳng thấy” trong việc tu học, rất thâm
thúy. Từ chuyện nhà quê, tác giả đưa ta tới một trong những đỉnh cao của
triết học đông phương.
- mẹ gà con vịt: người ta
lựa trứng tốt, có trống để nhờ vịt xiêm hoặc gà ấp, chứ không phải là người
ta nhặt đại trứng vịt đẻ ngoài đồng về cho gà ấp (nếu không có trống thì
làm sao mà nở ra gà con được ) (373)
- ở
bầu thì tròn ở ống thì dài: chỉ để nói về nước thôi chứ không nói về gì
khác. Tác giả cực lực bài bác ý kiến cho rằng câu trên là để chỉ
người ta nuôi gà ống (gà trong ống tre) (376).
- nhĩ
thuận, trong câu nói của Khổng tử, thiên Vi Chính, Luận Ngữ (258,259). Một thuyết
cho rằng “nhĩ” đây là “dĩ” (thôi, đã qua) không phải là tai. Còn Phan Bội
Châu và Nguyễn Hiến Lê thì “nhĩ” là tai, tai thuận. Lục thập nhĩ thuận. Không
đọc cuốn này, tôi vẫn nghĩ sai là “lục thập thuần nhĩ”. Rõ là sai một ly,
đi ...hai dặm!
- cọp:
về những từ như coi hát cọp, cọp dê …, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc giải
thích sai. NHQ cho rằng cọp là do chữ con cọp. Thực ra, chữ “cọp” đây là từ
chữ Pháp “copier” = nói trại ra là cọp dê. Từ đó phát sinh coi hát cọp, xài
cọp, đọc báo cọp, nghĩa là coi ké, xài tiền ké, đọc ké, không tốn tiền và
công sức. Nhân đó, tác giả phân biệt hai chữ: cọp và chùa. Cả hai đều có
nghĩa là không tốn tiền nhưng cách dùng thì khác. Chữ “cọp” dính líu đến
tinh thần: đọc báo cọp, coi hát cọp...Còn chữ “chùa” dính đến vật chất: ăn
chùa, hút chùa (277-279)
- coi
hát hạng cá kèo: vào mùa nước đứng ròng, cá kèo hè nhau nhóng cổ đầy dẫy
cặp theo các bờ ruộng, nên gọi là “cá kèo nhóng cổ”. Coi hạng cá kèo là coi
hạng bét, xa sân khấu, bị khán giả phía trước che khuất nên ngóng cổ lên
mới xem được gọi là coi hát hạng cá kèo (301)
- giồng:
tức là đất giồng, vốn là những gò cát chạy dài , nên chính trong lòng nó,
cát đã là những hạt bụi khô hạn vậy. Vì thế , từ
cái chỗ trồi mình lên cao nên nó ít bị ngập mà người ta mới quy tụ lên
“giồng” để tìm cách sinh nhai...”. Từ đó, ta mới có những địa danh ngộ
nghĩnh như giồng Trôm, giồng ông Tố hoặc các đặc sản như “rượu giồng”, “gà giồng”... (354)
Tóm lại, ngôn ngữ nói
chung đều do kinh nghiệm thực tế mà hình thành. Không có kinh nghiệm, người
ta sẽ không hiểu hay hiểu sai hẳn ý nghĩa của chúng.
Nhưng quan trọng hơn cả
là tư tưởng. Bàng bạc qua 370 trang giấy, cách này hay cách khác, toát lên
một tinh thần, một giòng tư tưởng nhất quán mà tác giả gửi gắm vào. Có thể
gọi đó là triết lý của anh: triết lý nhà quê. Từ kinh nghiệm ruộng đồng,
anh liên hệ đến các giòng tư tưởng lớn của đông phương: Khổng Giáo, Phật
Giáo, Lão Giáo cùng thơ văn hay biên khảo của nhiều tác giả lừng danh Việt
Nam và Trung Quốc như Tô Đông Pha, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu, Sơn Nam,
Nguyễn Hiến Lê, Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương...và các
bạn hữu như Trần Hoài Thư, Phan Xuân Sinh, Trần Trung Đạo. Và ngược lại.
Quê mà không quê tí nào. Để hiểu rõ triết lý của anh, không gì hay hơn là
đọc một số đoạn được trích rải rác từ trong Lá Thư Từ Kinh Xáng:
Nghĩ cho cùng không có
người nhà quê làm gì có kẻ chợ; không có người dốt làm sao có được kẻ khôn
(46)
Ở nhà quê mình, coi vậy
mà nhất nhất việc gì cũng có cái lễ nghĩa trong đó nghe chú ba (66)
Tại cái bụng người đời ưa
lấy cái có làm giàu, lấy cái mới làm tốt, lấy cái sang làm trọng, lấy cái
học làm cao nên mọi cái khác khi không cần hoặc quá quen thuộc cứ tưởng là
mình không bao giờ dùng tới nữa, rồi đâm ra mau quên (132)
...Chú biết chắc chắn một
điều là ở nơi chú bây giờ đây không có cái gì “chính thống” cho bằng lấy
ruộng làm gốc, lấy quê làm nguồn (349).
Từ đời ông cố ông sơ rồi
tới đời ông nội ...tính có hàng trăm, hàng trăm chỉ biết lấy ruộng làm gốc,
lấy quê làm nền. Từ trong ruộng mới đẻ ra cái lòng bền bỉ, kiên nhẫn chịu
đựng (...)...ở trên đời này không có đức chịu đựng, chịu thua, chịu lép như
vậy chưa chắc gì đời nay cũng như đời xưa có được giới chữ nghĩa, giới thầy
chú, giới quan quyền, giới trí thức trí thiết ăn trên ngồi trước trong xã
ngoài làng, trên tỉnh ngoài huyện như từ hồi nào tới giờ... (350)
- Nước có thể mất, nhà có
thể tan, nhưng cái nền nhà quê vẫn còn hoài hà, khó ai có thể bứng nó dời
đi được (351)
Cái mùi hương hoa đất
nước nó làm nên tiến sĩ này, bác vật kia chú nghĩ là cái mùi lúa mới ấy chứ
không có trí thức trí thiếc “chính thống” hay “không chính thống” gì ráo
trọi. Nó là nền là gốc của mọi nề nếp văn hóa Việt Nam mình (…) …văn hóa
Việt tinh túy nhứt phải nhận là cái văn hóa nhà quê mấy cháu à (…) Những ông già bà cụ là
những người không rao giảng văn hóa bao giờ; thế mà chính họ là những nhà
văn hóa thứ thiệt (356, 357).
Nhưng gì thì gì - cảnh,
người, chữ nghĩa hay triết lý - tất cả đều trở thành nỗi nhớ. Lá Thư Từ
Kinh Xáng là
nỗi nhớ. Nhớ nhà. Nhớ quê. Hai câu thơ
Đường của Thôi Hiệu chợt hiện đến:
Nhật mộ hương quan hà xứ
thị
Yên ba giang thượng sử
nhân sầu
Tản Đà dịch:
Quê hương khuất bóng
hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho
buồn lòng ai.
Quê hương giờ khuất bóng
đến nửa trái đất, chứ không phải chỉ trong bóng một hoàng hôn. Thành ra
miên man nhớ. Nhớ hoài. Nhớ tận mạng, phải không, anh Hai Trầu?
Lá Thư Từ Kinh Xáng là
tác phẩm thứ ba của nhà văn Lương Thư Trung, do Thư Ấn Quán ấn hành tháng
4/2005. Hai tác phẩm trước đây là Bến Bờ Còn Lại (tác giả tự xuất bản,
2000) và Tình Thầy Trò (Thư Ấn Quán, 3/2005).
Xin chào mừng anh Lương
Thư Trung và Lá Thư Từ Kinh Xáng!
Trần
Doãn Nho
(7/2005)
_____________________________
* Ghi chú: những con số
trong ngoặc đơn là để chỉ số trang trích từ “Lá Thư Từ Kinh Xáng”
|